Trình Giảo Kim …Trật Búa

Posted: 28/08/2011 by koll in Uncategorized

Trình Giảo Kim …Trật Búa

. Đinh Tấn Lực

Quanh bàn nhậu lâu nay vẫn thường có người say sưa kể chuyện nhà Đường (618-907), từng được coi là đỉnh cao của nền văn minh Trung Hoa. Với Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi, một trong tứ đại mỹ nhân bên Tàu. Chuyện Đường Tăng sang Tây Vực thỉnh kinh (Tây Du Ký). Hoặc chuyện đâm ngang/chận đứng bánh xe lịch sử của thời Võ Chu (690-705) với nữ hoàng đế duy nhất Võ Tắc Thiên lừng danh toàn bộ sử Tàu.

Lúc nâng cốc, những người có điều kiện cũng thường tiện dịp khoe chuyến tham quan Đại Đường Phù Dung Viên ở Tây An (tức cố đô Trường An), rộng 700.000 mét vuông với khoảng một phần ba diện tích đó là nước, phần còn lại là khu Bảo tàng nghệ thuật đời Đường, ở ngay phía Nam một ngôi chùa được xây dựng khoảng 14 thế kỷ trước và từng là nơi Ngài Huyền Trang dịch kinh Phật.

Thỉnh thoảng lại có lắm kẻ tỏ lòng hâm mộ quyển “Toàn Đường Thi” với gần 50 nghìn bài thơ của hơn 2300 nhà thơ đời Đường. Rồi cao hứng ngâm nga dăm bài tứ tuyệt cứng niêm/chắc luật/trắc trắc/bằng bằng giòn giã như tiếng AK trong thời hoàng kim của văn học nghệ thuật TQ, với các ngôi sáng thuộc hàng thi tiên và thi thánh như Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương, Trần Tử Ngang, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích, Sầm Sâm, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn, Lý Hạ, Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục v.v.…

Lâu rồi, hồi VTV3 khởi chiếu phim Trình Giảo Kim (Cheng Yaojin  程咬金) , có người đã điện nhắc mở đài giục coi đi, coi đi, hay lắm, hay lắm!

Mà thiệt, cảm ơn người nhắc, và cảm ơn VTV, là nhờ phim bộ truyền hình này mới biết tay danh hài Tiết Cương là con của Tiết Đinh San, tức là cháu nội của Tiết Nhơn Quý. Mới biết Đơn Hùng Tín, Tần Thúc Bảo, Trương Công Cẩn, Uất Trì Cung, La Thành, Vưu Tuấn Đạt và Trình Giảo Kim… là một nhóm quần hùng tụ hội. Mới biết Trình Giảo Kim đã từng ba lần làm sứ giả cầu viện tẩu tẩu Phàn Lê Huê xuống núi giúp nghĩa huynh Tiết Đinh San; và từng nổi tiếng về tài đánh búa, lại còn được thiên hạ nể trọng về biệt danh triệt hạ đối thủ trong vòng ba chiêu búa đầu tiên.

Mà thiệt, không có VTV thì lấy đâu dân ta có tài thuộc lòng sử Tàu tới vậy?

Làm sao dân ta biết rõ Lý Thế Dân là người động viên phụ thân Lý Uyên đứng lên khởi nghĩa dẹp nhà Tùy để lập ra nhà Đường vang danh bốn cõi là “thịnh thế thiên triều”?

Làm sao biết rõ Lý Thế Dân, cho dù đã xuống tay sát hại 2 anh em trai Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát cùng 10 người con trai của họ, để chiếm ngôi thái tử, sau thành Đường Thánh Tông… nhưng vẫn để đời công trạng từng thân hành dẫn quân chinh phạt Cao Ly; từng thả 3000 cung nữ về với mẹ cha ngay khi vua cha Đường Cao Tổ băng hà; từng trân trọng hiền tài Mã Chu ngay khi đọc tờ sớ đầu tiên của đương sự; từng xiển dương và thực hiện lời khuyên của đại thần Ngụy Trưng: “Nghe rộng thì sáng, nghe lệch thì tối”; từng kết nghĩa đệ huynh với Đường Huyền Trang (Đại sư Tam Tạng); từng cắt sưu giảm thuế, mở kho phát chẩn dân nghèo và chuộc những nạn dân phải bán mình làm nô tỳ; và tự để đời nhiều danh ngôn của một minh quân, ví dụ như: “Muốn làm vua được tốt, cần trước tiên để trăm họ sống nổi. Nếu vì mình mà làm tổn hại đến trăm họ, giống như cắt thịt đùi ăn vào bụng, bụng no thì người cũng chết”…

Cái lớn gấp bội mà truyền hình VTV không nhắc, khiến cho dân ta, vốn ít khi đọ sử, để biết rõ hơn, rằng, thời (4T) Thịnh Thế Thiên Triều của Đại Đường chính là thời kỳ Việt Nam lâm vòng Bắc thuộc lần thứ 3:

Năm 602, nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân sang đánh nước Vạn Xuân. Vua đời thứ 3 của Vạn Xuân là Lý Phật Tử hàng giặc, bị bắt sang Tàu. Việt Nam trở thành một châu của nhà Tùy, gọi là châu Giao.

Năm 605, nhà Tùy đổi châu Giao thành quận Giao Chỉ, đồng thời, đặt ra Phủ-Đô-Hộ-Giao-Chỉ để cai trị Việt Nam.

Năm 618, nhà Đường lật đổ nhà Tùy, lập ra nước Đại Đường bề thế.

Năm 622, thái thú đương nhiệm của nhà Tùy là Đại tổng quản Khâu Hòa xin thần phục nhà Đường. Việt Nam tất nhiên trở thành thuộc địa của Đại Đường.

Năm 624, Đường Cao Tổ lại đổi Phủ Đô Hộ Giao Chỉ thành Phủ Đô Đốc An Nam. Tên gọi An Nam trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ thời điểm này. Chức quan đứng đầu Phủ Đô Hộ An Nam lúc đầu gọi là Kinh lược sứ, sau đổi thành Tiết độ sứ. Nhà Đường lại chia Giao Châu làm 12 châu là: Giao/Phong/Chi/Ái/Lục/Thang/Hoan/Trường/Diễn/Võ An/Võ Nga/Phúc Lộc; đứng đầu mỗi châu là một viên quan thứ sử; mười hai châu này lại được chia thành 59 huyện.

Trong suốt 300 năm Bắc thuộc lần thứ 3, dân ta có tổng cộng 5 cuộc nổi dậy giành độc lập:

Năm 687, do Lý Tự Tiên và Đinh Kiến khởi xuất;

Năm 713, do Mai Thúc Loan khởi nghĩa, xưng là Mai Hắc Đế;

Năm 791, do anh em Phùng Hưng và Phùng Hải đề xướng, chiếm thành châu Giao, nhưng sau khi Phùng Hưng mất, con ông là Phùng An đã đầu hàng Triệu Xương nhà Đường;

Năm 819, do người Tày/Nùng ở vùng Tây Bắc nổi dậy chống lại quan lại nhà Đường.

Năm 905, do Hào trưởng Chu Diên (Hải Dương) là Khúc Thừa Dụ dấy động dân binh nổi lên chiếm lấy thủ phủ Đại La (Hà Nội), tự xưng là Tiết độ sứ, và chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc này.

Khán giả của VTV, vì không rõ, nên chẳng thể nào mê các đường đao/kiếm Việt Nam của Phùng Hưng hay Khúc Thừa Dụ, so với tài năng xuất chúng trên màn ảnh của Trình Giảo Kim về đường búa 3 chiêu (tức là khi phải dùng tới chiêu thứ tư thì coi như thua).

Lắm kẻ mê Trình đến mức viết báo tuyên truyền xem ra chẳng khác gì họ Trình múa búa.

Gần đây nhất, trên trang báo ANTĐ (mở rộng), lại xuất hiện một kẻ rìu to búa lớn, hiệu là Nguyễn Việt, mạnh dạn lên tiếng kêu gọi bất kỳ người Việt nào đang mơ hãy mau tỉnh lại.

Trình tự của chiêu thức Giảo Trình Ba Bốn Búa này như sau:

Bái tổ, tác giả đặt ra tiền đề âm mưu kích động “các cuộc tụ tập bất hợp pháp của vài chục người” là bởi có người kích động (nhằm chống nhà nước).

Búa thứ nhất, tác giả đặt câu hỏi là đa phần người biểu tình có cùng quan điểm chống nhà nước đó không.

Búa thứ hai, tác giả nêu vấn đề hợp pháp của các “cuộc tụ tập đông người vào sáng chủ nhật những tuần qua”.

Búa thứ ba, tác giả nâng cấp sự hợp pháp của các cuộc biểu tình đó lên hàng “thách thức pháp luật”.

Búa thứ tư, sau cùng, tác giả cố tình tỏ vẻ bỏ ngỏ việc chốt lại cái tiền đề áp án của đòn khai búa.

Không ai chắc tác giả bài viết ngu si tăm tối dường đó. Chỉ có thể quy cho kẻ đặt hàng bài viết đã tự thiết kế hệ lý luận “bước chân lừa quanh cối xay” này xoay xoắn cái tiền đề có 2 ý chính: một là tụ tập bất hợp pháp, và hai là có người kích động.

Từ tiền đề tưởng là chắc nịch đó, câu hỏi thứ nhất là một đường búa tự chặt lấy chân. Bởi vì câu trả lời 50/50 là có hoặc không. Tác giả tự cho cái quyền trả lời “không” thay cho người được hỏi là đám đông tham gia biểu tình, như thói tự đại diện của truyền thông nhà nước vẫn từng làm và vẫn ngỡ nó còn hiệu nghiệm, song sẽ mắc quai ở điểm nó tự phát. Trong thời đại a-còng này, nhiều phần câu trả lời chưa chắc sẽ như nhà nước mong đợi. Muốn biết chắc, phải làm một cuộc thăm dò dư luận khoa học và khách quan. Có đứa nào dám trưng cầu dân ý không? Bởi ở vào trường hợp nhà nước ít hèn đó, nếu đa phần người tham dự trả lời “có” thì kẻ đặt hàng lẫn kẻ viết bài sẽ chui vào đâu cho đỡ nhục? Hoặc sẽ về đâu học lại các nguyên tắc truyền thông, với điều ghi nhớ hàng đầu là đừng bao giờ liệt kê số đông của đối thủ, chưa nói tới chuyện đẩy thêm đối tượng biểu tình (và cả độc giả bài báo) về phía đối thủ cho nó sớm thành đối lập.

Vẫn từ tiền đề chắc nịch nói trước là bất hợp pháp, tác giả lại múa thêm đường búa tự chặt lấy tay, bằng câu hỏi các cuộc tuần hành đó có hợp pháp hay không. Câu hỏi, không khéo, như trong trường hợp này, sẽ dẫn đến một tác dụng lật ngược bất ngờ: Luật biểu tình ở đâu để quy rằng các cuộc biểu tình đó là bất hợp pháp? Hay nhẹ nhàng hơn, Vì đâu mà các cuộc biểu tình đó bất hợp pháp? Vì nhà nước run sợ không dám đề xuất và thông qua luật biểu tình? Vì cả đảng lẫn nhà nước phải câu giờ để cai trị đất nước bằng sắc lệnh thay cho luật? Vì cả đảng lẫn nhà nước chỉ có cái khả năng hết mức là ban hành loại “thông báo” vi hiến/vi luật/khơi khơi/không số/ không nơi gửi/không người nhận/không chữ ký? Hay, vì cả đảng lẫn nhà nước chỉ có cái khả năng hết mức về định nghĩa, rằng “Các cuộc tụ họp đông người không xin phép được coi là bạo loạn và cảnh sát thẳng tay đàn áp ngay”?

Búa thứ ba, phọt ra ngoài cái tiền đề nói trên, và lần theo thói “thuyết phục” của trung tá CA Hoàng Văn Dũng đối với Blogger Điếu Cày, thì hẳn đây là đường búa quay ngược tự “làm mất khả năng đàn ông” của kẻ đang múa. Bởi, chẳng mắc gì mà tác giả (luôn cả tay đặt hàng và nhà nước) phải bực mình về quyết định riêng của nhóm biểu tình là khi nào đi/khi nào nghỉ. Rồi tự nâng cấp/gán ghép/mở đường cho những quyết định tự thân của họ biến thành những “thách thức”, thậm chí, là “khiêu khích”, là “láo xược”. Thách thức thì đã sao? Một chính phủ lành mạnh và có nội lực chẳng đời nào lo sợ những thách thức (challenging) để tranh luận hướng tới một giải pháp tối hảo cho đất nước. Chấp nhận thách đố, (giữa lãnh đạo với cá nhân/giữa lãnh đạo với một tổ chức/giữa chính phủ với tổ chức phi chính phủ/giữa đảng cầm quyền với đảng đối lập…), từ đó, còn là một loại văn hóa chính trị tầm cao. Chỉ có những võ sĩ hạng hèn mới không dám nhận lời thách đấu. Chỉ có những chính phủ bị coi là bất xứng hoặc tự ti về tính bất xứng của nó mới sợ hãi thách đố. Còn, ngoài ra, chỉ hạng tay sai/văn nô/bồi bút… mới rạp mình bày tỏ niềm bực tức cho rằng các thách thức trong sáng của sinh hoạt dân chủ là những khiêu khích hay láo xược. Chính loại văn nô tự khúm núm hạ mình xuống hàng con cái của thứ cha mẹ bạo quyền (hay tương quan chó-chủ) đó mới tự coi hành động thách đố là “láo xược” với bề trên. Đường búa thứ ba này đã lột trần thân thế và tính cách của tác giả cùng kẻ đặt hàng bài báo trên tờ ANTĐ.

Đường búa phụ trội thứ tư (coi như thua), chính là một câu hỏi lơ lửng như một đoản khúc tự vấn có lời đáp sẵn trong tiền đề áp án bên trên: “âm mưu thật sự của những kẻ kích động các cuộc tụ tập bất hợp pháp là gì?”. Coi như thua, chính là ở chỗ huỵch toẹt ra nỗi sợ hãi sinh tử của chế độ, rằng: Trước sau gì Nhân dân cũng sẽ đều bước tuần hành từ điểm chống TQ xâm lược tới điểm vạch trần cái hèn của đảng nhà nước quỵ lụy TQ nên không dám lên tiếng về hiểm họa Bắc thuộc lần cuối này. Điểm vạch trần đó, trong niềm tự ti giao thoa và cộng hưởng của bạo quyền và văn nô, mặc nhiên được gia cố thành tội danh đi từ chỗ chống TQ tới chỗ chống nhà nước.

Cái đọng lại trong đầu độc giả, nếu có, chỉ có thể là nỗi sợ hãi sinh tử đó, đã được tác giả cất công kẻ rõ nét, tô đậm màu, với lời tự kết là hãy tỉnh lại.

Nỗi sợ hãi tập thể và có hệ thống đó không có thắng hãm đà tuột dốc.

Nó ăn lan qua bài 2 của cùng tác giả, với bức ảnh một du khách mặc áo đỏ ngồi xích lô mui đỏ minh họa cho “ấn tượng một Việt Nam ổn định, hoà bình và phát trin”, trong lúc toàn bài phải dựa vào cái Nghị định 38/2005/CP ngày 18/3/2005 để chứng minh kỳ tích dưới sự lãnh đạo của đảng, Việt Nam hiện là một đất nước gia công (đầy rẫy gia nô) dưới một nền công an trị theo nghị quyết và nghị định.

Trình tự lý luận chân lừa/cối xay của cả hai bài báo được trả nhuận bút bằng tiền thuế của dân chứa đầy lổ hổng như nói trên, trên thực tế, cũng chỉ là một hệ quả không thể khác của cái nền báo chí ma đầu và du côn, như WikiLeaks tiết lộ hàng loạt (phụ lục 1 & 2), trong đó, thật khó thấy được chất người của các ngòi bút.

Lắm kẻ kháo nhau rằng đây chính là hậu duệ nhiều đời của Trình Giảo Kim …trật búa, trong sổ hộ chiếu ghi tên là Trình Giảo Xan, chẳng biết đúng sai được mấy phần.

Chỉ biết đám giang hồ Dân Báo thời này lại mắn đẻ, sinh ra chi cho lắm Dương Lâm, khiến Trình Giảo Xan phải rơi vào hồi thứ 10 của truyện “Thuyết Đường”: Dê Tìm Cọp.

28-8-2011. Mừng sinh nhật cố Văn hào Lép Nicôlaiêvich Tônxtôi. Một ngày đọc báo lá cải để nghĩ đến những tay chọc trời khuấy nước.

Blogger Đinh Tấn Lực

Phụ lục 1:

Tài liệu WikiLeaks: Di sản của Võ Văn Kiệt, một năm sau ngày mấtThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khiến nhiều người ngạc nhiên vào 28 tháng Năm khi văn phòng thủ tướng ra lệnh cho tất cả các tòa soạn báo in và báo điện tử lớn ở Việt Nam, 2 ngày trước ngày giỗ đầu của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, rằng phải đăng một bài viết của ông Dũng tưởng nhớ sự kiện này. Các nguồn tin từ báo chí ở tp HCM nói với tòa lãnh sự rằng truyền thông nhận chỉ thị trực tiếp từ văn phòng Thủ tướng rằng bài của ông phải đăng trang nhất, và rằng không có bài viết nào về ông Kiệt được phép xuất bản trước bài này.Bài viết của Thủ tướng Dũng nhiều hơn một bài tán tụng lãnh đạo cộng sản thông thường, ca ngợi ông Kiệt như một người hăng hái tranh đấu cho tự do, một nhà cải tổ vĩ đại, một người tiên phong hòa giải dân tộc và một nhà cải cách kinh tế. Nhưng khi bài viết được đăng, dư luận xả van. Nhiều bài báo, trên cả báo chính thức lẫn cộng đồng blog, miêu tả ông Kiệt như là nhà lãnh đạo cuối cùng thuộc thế hệ Đổi Mới ở Việt Nam: Một nhà đổi mới vĩ đại, một người mong muốn hòa giải, nhưng hơn hết, một người ủng hộ dân chủ có vị trí và uy tín không ai có được để công khai ủng hộ cải cách.Những quan sát viên chính trị ở tp Hồ Chí Minh cho chúng tôi biết họ đọc bước đi của ông Dũng như một nỗ lực “xây dựng hình ảnh của ông ta như một người cổ vũ cải cách”, và đặc biệt là để lấy lòng những trí thức có đầu óc đổi mới, những người gần đây đã công khai phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên của chính phủ Việt Nam. Một nguồn tin tin cậy nói với chúng tôi rằng, khi mà ông Dũng và chính phủ VN đã tỏ ra không mấy tôn trọng mong ước và suy nghĩ của ông Kiệt vào năm ngoài, thì mánh khóe của Thủ tướng tỏ ra “phản tác dụng” với trí thức tp Hồ Chí Minh và thất bại trong việc kiếm điểm cho Thủ tướng.Tqvn2004 chuyển ngữ
Theo WikiLeaks

*

Phụ lục 2:

Wikileaks: Nhà nước chặn thông tin, bịa tin tức & tham nhũng…Tổng lãnh sự Fairfax viết trong bản báo cáo đề ngày 29 tháng 1, 2010, trong phòng xử chỉ có một vài cán bộ của đảng Cộng Sản Việt Nam được vào xem. Phóng viên và nhân viên ngoại giao được đặt trong một phòng khác và xem qua truyền hình – “thường xuyên bị nhiễu âm thanh trong lúc đang điều trần”. Gia đình các bị cáo được đặt trong một phòng khác, cũng xem qua truyền hình và âm thanh cũng bị kiểm duyệt như vậy.Ông Fairfax báo cáo rằng mọi loại máy thu, máy quay, máy chụp hình đều bị cấm, và lý do là để cho báo chí của nhà nước có thể tự do bịa đặt. Ông viết, lý do là để “ngăn ngừa không cho người quan sát dễ dàng lật tẩy những lời tường thuật rất ư sai lạc, bằng những sự thật đáng xấu hổ”.Ông Fairfax đặc biệt nêu thí dụ bài báo An Ninh Thế Giới, trực thuộc Bộ Công An Việt Nam, đề ngày 23 tháng 1, 2010. Bài báo này có những câu hỏi trả lời phỏng vấn của ông Trần Huỳnh Duy Thức, được viết như thể phóng viên phỏng vấn ông Thức lúc ông Thức trên đường vào tòa.Tuy nhiên, ông Fairfax cho biết, “bốn bị cáo được đưa từ xe công an vào thẳng phòng xử trong vòng vây của một đám đông công an, không ai được đến gần, chứ đừng nói chi phỏng vấn, những bị cáo này”.Bài báo của An Ninh Thế Giới cũng trích dẫn lời khai của Luật Sư Lê Công Ðịnh rằng ông “đã bị lôi kéo vào những âm mưu hòng lật đổ chính quyền nhà nước…”Ông Fairfax báo cáo về Washington rằng câu nói đó do phóng viên An Ninh Thế Giới bịa ra và đặt thêm vào sau lời khai của ông Ðịnh…Vũ Quí Hạo Nhiên (Người Việt)

Đường Truyền
Từ Trò Lố Hóa Rồ
Đến Mồ Chôn Chế Độ

. Đinh Tấn Lực

 

1

Cái cao quý nhất trên thế gian này chỉ có thể có ở con người,
nhưng oái oăm thay,
cái hèn hạ nhất lại cũng chỉ có ở con người
”.

 

Rõ không cần chứng. Chuẩn không cần chỉnh. Bởi nó hiển hiện trước mắt hai mảng màu sáng/tối của ngày chủ nhật 21/8/2011 ở giữa lòng thủ đô nghìn năm văn vật, ngay dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ của Thăng Long thành:

Cao quý dường nào những con người bình dị đi bộ/đội mưa/căng biểu ngữ biểu lộ quyết tâm bảo vệ đất nước trước hiểm họa ngoại xâm, ngay cả khi đã bị đe nẹt tứ bề từ đêm trước bằng một thứ “thông báo” nặc danh/không số/không người/không địa chỉ.

Ngược lại, hèn hạ biết bao những “lãnh đạo quản lý” phải tuân thủ lệnh thái thú vương triều mà thập thò không dám ký lệnh cấm yêu nước, lại còn ra sức chế diễu/dè bỉu/khinh mạn/chà đạp những tấm lòng son sắt đó là “trò lố”.

Không chỉ cực hèn, bởi đã có thêm những “lãnh đạo lý luận” ra sức “định hướng dư luận” rằng những hoạt động đòi giữ gìn biển đảo rất mực trong sáng đó là hành động “gây hấn với trung quốc”, với một kết luận thả nổi bằng hai dấu hỏi cực ngu là “tranh chấp làm gì?” và để “được cái gì?”.

Động cơ và nguyên ủy của sự hèn hạ đó đến từ đâu? Vẫn theo Giám đốc học viện chính trị hành chính quốc gia Tạ Ngọc Tấn, thì đó là: “chủ trương nhất quán vì lợi ích cơ bản, toàn bộ và lâu dài của ta”! Chằng cần nhọc sức hỏi “ta” ở đây là ai, mọi người đều rõ họ tên từng đứa trong cái câu lạc bộ thập tứ thiên lôi này.

Nhưng, nếu thấy cần vinh danh đỉnh điểm của sự hèn hạ đó, thì nhất thiết phải kể đến nỗ lực huy động đoàn Thanh Niên CS-HCM (chiếu theo bản điều lệ là: “bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng”) cùng rôm rả trình diễn các tiết mục văn nghệ sexy và sường xám cách điệu, nhằm lấy cớ bắt người biểu tình bằng tội danh án ngữ/phá rối, “gây mất trật tự đường phố”, rồi tự hãnh rằng đó là kế hoạch “lật tẩy” phản động để lập công với thiên triều!

 

2

Xưa nay không một lực lượng xã hội nào
đã chống lại đạo lý mà lại được lòng dân
”.

 

Xưa, là những Trần Ích Tắc khấu đầu/thờ giặc, những Lê Chiêu Thống rước voi/cõng rắn…

Nay, là một cỗ máy xay nghiền những ai yêu nước ngoài khuôn khổ (tức chẳng thèm yêu luôn XHCN hoặc …thương ông thương mười), tính từ đận lén lút tiêu diệt các đảng phái quốc gia thời 1945 trở đi; và suốt 2/3 thế kỷ qua, chưa từng dám một lần trưng cầu dân ý, bởi đã quá rõ khát vọng của nhân dân là chấm dứt quốc nạn độc tài độc đảng để tạo điều kiện cho đất nước cất cánh.

                                                                                               

Chưa từng dám chủ động đề xuất và tích cực tranh luận/biểu quyết đạo luật tụ họp/biểu tình. Lại chẳng dám để nhân dân biểu lộ ý chí Diên Hồng, chỉ vì sợ giặc …mích lòng. Đã thế, còn bảo vệ sự hèn hạ mãn tính bằng lập luận ơn nghĩa: “Bản thân tôi (Tạ Ngọc Tấn) vào bộ đội chống Mỹ thì từ đầu đến chân toàn là vũ khí trang bị của Trung Quốc, đến cả quân trang, mũ cối, dép râu đến lương khô cũng là của Trung Quốc!!!”.

Cũng chưa từng dám để nhân dân tự lập hội hay để tư nhân tự in sách/ra báo. Cho dù kẻ ra lệnh cấm đã phải đạp lên cả đống cẩm nang kách mệnh: “Yêu sách của nhân dân An Nam” (Revendications du peuple annamite – 1919 – yêu sách số 2-3-4), hay “Bản án chế độ thực dân Pháp” (Le Procès de la colonisation française – 1925 – chương 2 tới chương 9).

Dù vậy, lòng dân cũng đã hiển thị đến mức không thể nào rõ hơn, ngay trên giấy gói hàng/tạp dụng, hoặc thông qua tỷ số pageviews của trang mạng chính quy và tốn kém của các cơ quan ngôn luận hay cổng thông tin điện tử (có bộ phận chủ quản và kinh phí vận hành hẳn hoi), so với các trang blog tay ngang và tài tử như DanLamBao hay AnhBaSam.

                                                                                   

3

Thật tội nghiệp cho những ai cứ đinh ninh
vẫn hãy còn những gì đã mất rồi
”.

 

Đứng đầu là chủ nghĩa. Thiên hạ đã thong dong giật nước/rửa tay từ lâu. Có nhắc đến thì thường là phải đi kèm theo việc kỷ niệm một loạt tội ác nào đó, hay chỉ để nhắc nhớ đến một hệ ảo tưởng từng đọa đày ¼ nhân loại gần trọn thế kỷ trước.

Thứ nhì là lý tưởng cộng sản. Tác phẩm Đường Kách Mệnh (1927) từng so sánh các cuộc cách mạng Mỹ-1776/Pháp-1789 rồi khẳng định chỉ có Cách Mạng tháng 10 Nga-1917 là triệt để… thì nay, cái nôi cách mạng triệt để đó đã tự dân chủ hóa thành Cộng hòa Nga, và ngay cả những lãnh đạo CS còn sót lại trên thế giới cũng đang chễm chệ trên những gia sản tư hữu bất chính kếch sù.

Thứ ba là hiệu năng bao trùm của cơ chế độc đảng toàn trị. Tính “bao trùm” đã từ lâu biến thành “ăn trọn”, còn mức độ toàn trị đã keo khô hồ rã trước tấm biển “trên bảo dưới không nghe”, chỉ bởi cái tính ăn trọn, chia chác không đều vừa nói trong cả bầy sâu.

Thứ tư là ý niệm quyền lực trên nòng súng. Hồng quân và KGB của Liên Xô cũ đã giải quyết tận gốc sự ngộ nhận dã man mà cực đáng thương đó. Gần hơn là kinh nghiệm sắt máu (và xương máu) của Saddam Hussein ở Iraq. Thời sự sát sườn nhất là các nòng súng còn đọng khói ở Tripoli của tay độc tài Kadafi, với những ngón tay bóp cò đang bị khuất phục bởi sức mạnh của số đông.

Thứ năm là tác dụng bưng bít của các thứ màn sắt màn tre (và cả tường lửa thời a-còng). Tất cả đã lả tả rụng rơi như lá vàng cuối thu trong cơn giông internet. Hệ lưỡi gỗ đã bỗng chốc thành than. Tập quán “nói lấy được” đã bị nhận chìm bởi cơn lũ dân báo. Khoa “định hướng dư luận” đã tự khai phá sản bởi các cậu đánh máy và các mợ chỉnh hình. Nhiều thứ mật đàm bị phanh phui. Lắm trò đê tiện bị bật rễ…

Thứ sáu là tập quán xin-cho/nhờ ơn bác đảng. Lưới tem phiếu đã thủng. Hệ bao cấp đã chảy, kể cả bao cấp yêu nước. Ngăn sông/cấm chợ cùng nghĩm vào quá khứ như mớ công điểm hợp tác xã. Đảng phải tất tả chạy theo dân, lấm la lấm lét cướp cờ khoán mười/đổi mới. Hệ quả là mối tương quan mất dạy cha-con/chủ-chó đành phải bốc hơi.

Thứ bảy là quán tính khinh mạn dân trí thấp. Chính sách ngu dân đã bật tung nắp đậy. Chiếc đũa thần thông tin thời đại (cả internet lẫn Việt kiều, du sinh và lao động xuất khẩu) đã gõ vào hốc đá quan trường, hiển lộ tình trạng quan trí vừa thấp vừa gian. Từ làn sóng đỏ mua bằng/bán chức cho tới tính cách đen qua sông lụy đò cơm/áo/gạo/tiền. Từ thiểu năng đối nội tới thiểu trí đối ngoại của một bầy đàn (tốt nghiệp) cao cấp chính trị. Từ tuyên giáo rụt cổ/co vòi tới văn nô hỗn mang/khúm núm…

Thứ tám là lãnh tụ anh minh ở tầm thần tượng. Trần Dân Tiên cùng đám đệ tử xu nịnh đã hợp lực phanh thây ướp xác các ngộ nhận một thời về lãnh tụ. Thần tượng bỗng chốc eo sèo trần trụi giữa đời thường cùng mớ đạo đức vờ vịt, tư tưởng rỗng không. Dàn “hậu duệ” đương thời nhung nhúc loi nhoi như bầy cá hố bằng đầu/cá vồ một lứa, công khai quẫy đạp nhau tranh phần ăn bẩn. Đổi quách nóc nhà Tây Nguyên lấy vài trăm triệu. Giành nhau khai phá sản cả những món hời sắt vụn giá nhiều tỷ đôla…

Thứ chín là định kiến trí thức ngây thơ/vô dụng. Liên minh công-nông chủ đạo vừa mới được tái gia cố thành công-nông-trí. “Lãnh đạo” dập mặt với quyết định tự giải thể của IDS (những tưởng đời đời do trung ương quản lý!). Trang mạng BVN vẫn vững vàng như vách sắt thành đồng của giới phản biện, sau bao nhiêu trận gió tanh mưa máu dập vùi tàn bạo của CAM. Từ ảo ra thật, trí thức VN đã thõng tay xuống đường để nhìn tận mắt đất nước lại đứng lên. André Mandras Hồ Cương Quyết diễn tốt trong vai cọng rơm cuối cùng làm gãy lưng con lừa già còm cỏi.

Thứ mười là công trạng giành độc lập. Đất nước thoát khỏi xích xiềng thực dân là rơi tỏm vào tròng nô lệ quốc tế cộng sản. Ngay sau “thống nhất”, quân cảng Cam Ranh và phi trường Đà Nẵng lập tức trực thuốc điện Cẩm Linh. Đến khi Mát-xcơ-va sụp đổ thì Bắc Kinh lên ngôi cha chú. Ải Nam Quan và thác Bản Giốc lần lượt bò qua bên kia biên giới theo mật ước 1999. Trường Sa và Hoàng Sa bị gom vào đơn vị hành chánh Tam Sa. Ngư trường truyền thống của dân ta nằm trong tầm kiểm soát của bọn Ngư Chính & Hải Giám. Cáp tàu thăm dò thường xuyên bị cắt đứt. Giới “lãnh đạo” từng vỗ ngực nhiều công trạng kia vẫn còn mải mê thất thanh/tắt tiếng/cà lăm.

 

4

Trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần.
Vậy trước khi hứa phải uốn lưỡi mấy lần?
Và trước khi lệnh, phải bao nhiêu?
”.

 

Đã có kẻ long trọng tuyên hứa lúc nhậm chức là sẽ chống tham nhũng đến cùng, lại nhanh chóng hóa thân thành tay đầu nậu các tổng công ty và những tập đoàn kinh tế khủng chuyên ngành phá sản. Thà thất hứa để chứa lộc.

Đã có kẻ hứa dứt điểm các đường dây chạy chức, sau biến thành tên đảo ngũ giũ bỏ ngành giáo dục. Thà mất dạy mà đầy rương.

Đã có kẻ hứa dẹp bỏ tình trạng giường bệnh cá mòi, sau trớ giọng như đã từng bị ngọng bẩm sinh. Thà muối mặt mà chặt bị.

Lại có kẻ rập rình tuyên hứa không trấn áp người biểu tình yêu nước, chỉ ba hôm sau đã ra tay điều động âm binh lùng sục vơ lùa.

Đã thế còn tổ chức huy động trẻ con diễn thêm trò văn nghệ đùi non ngoài chỗ công cộng, hay cò mồi phỏng vấn đám bã đậu và cùi bắp thành những thiên phóng sự “điều chỉnh dư luận”.

Miệng quan trôn trẻ! Đã là lãnh đạo thì chẳng cần uốn lưỡi, lưỡi lãnh đạo để dành vào việc khác chăng?

 

5

Có thể che dấu khuyết tật của thân thể.
Không thể che dấu khuyết tật của tính cách
”.

 

Chưa thời nào “lãnh đạo” buông tuồng vui nhộn như thời nay. Các phát ngôn “ấn tượng” cạnh tranh nhau liên tục đến báo đăng không kịp, bình luận không xuể.

Những khuyết tật tính cách của dàn “lãnh đạo” bảnh bao thể hiện cực rõ qua thói ê a đọc diễn văn thậm thượt; qua cách phát biểu lí nhí của phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng trong cuộc họp báo quốc tế hoành tráng ở bộ ngoại giao nước ngoài; qua phong cách khúm núm bắt tay kẻ đồng nhiệm của một phó thủ tướng tròn trịa phương phi khác; qua những khung cửa hậu mà các phái đoàn công du phải chui lòn để vào phòng họp ở nước ngoài; qua thói ma mảnh trả tiền cậy đăng bài đánh bóng trên cơ quan ngôn luận của công ty xử lý rác ở Đức; qua trình độ ngoại ngữ “Broken English Perfectly Spoken” của chủ nhiệm các phái đoàn; qua loạt tin/bài các án dân sự trên báo bản xứ về tay Đại sứ trộm sò Lê Văn Bàng ở New York; qua những pha câu lưu các công cán ủy viên ăn cắp bị bắt quả tang tại các cửa hàng miễn thuế ở nhiều phi trường quốc tế; qua các đường dây sứ quán buôn lậu sừng tê/xe khủng; qua các vụ phủi tay, nhận chìm xuồng các vụ án tham nhũng liên quốc gia…

Quốc thể  bị chính dàn “lãnh đạo” từng đúc khuôn yêu nước ra tay dập vùi thô bạo trên các sân chơi ngoại giao lẫn ngoại thương, cả trong lẫn ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, thông qua quốc thể, danh dự và tư thế của lãnh đạo, cũng sẽ khuyết tật/chìm trôi.

Chưa nói tới một dàn lãnh đạo nổi tiếng là thậm hèn với giặc/cực ác với dân.

 

6

 Sai người khác thay mình làm điều ác còn ác gấp mười lần điều ác đó”.

 

Dẫu biết không có tay sai sẽ chẳng có quan thầy. Nhưng dẫu gì, trách nhiệm những hành động tàn ác theo lệnh truyền chính là ở kẻ truyền lệnh.

Người chỉ huy có tầm là kẻ điềm tỉnh trong mọi tình huống.

Người chỉ huy có tâm là kẻ sáng suốt phân định trách nhiệm do lệnh của mình.

Dám nghĩ đến độ oan nghiệt mà có thể rất đông người khác gánh chịu do bởi một tiêu lệnh của mình ban ra hay một chủ trương do mình áp đặt.

Từng nghĩ đến nạn nhân các cuộc đàn áp chính là đồng bào ruột thịt, và nhiều xác suất là có cả thân nhân của mình trong đó.

Rồi nghĩ đến họ tên chính mình, trong những quyển sử tương lai, được viết cùng dòng với Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, hay Hoàng Cao Khải…

 

7

Trong số các phạm trù ‘tiêu cực’,
có một phạm trù mang tính tích cực rộng lớn nhất: cái xấu hổ
”.

 

Trích đoạn giới thiệu từ entry Biết Xấu Hổ trên blog Cao Trào Nhân Bản:

“Cựu Tổng thống Nam Hàn Roh Moo-hyun 62 tuổi, xuất thân nghèo nàn, là một luật sư nổi tiếng nhờ vận động nhân quyền và bênh vực giới lao động, đắc cử tổng thống năm 2002 và cầm quyền nhiệm kỳ 2003-2008. 

Sau khi bị tố cáo liên hệ tới tham nhũng, ông Roh đã viết trên website của mình lần chót vào ngày 22 tháng 4, 2009 rằng: ‘Bây giờ quý vị nên loại bỏ tôi, vì tôi không còn là biểu tượng cho những giá trị mà quý vị theo đuổi. Tôi không còn đủ tư cách để nói về những chuyện như dân chủ, tiến bộ và công lý’. 

>Ngày 30 tháng 4 (2009), trước khi gặp Công tố để chịu thẩm vấn trong 10 tiếng, ông Roh nói với báo chí: ‘Vì nhục nhã, tôi không thể đối diện quý vị. Tôi xin lỗi vì đã làm dân chúng thất vọng’. 

Bốn ngày trước khi cựu Tổng thống Roh Moo-hyun tự tử, tại Anh Quốc, Chủ Tịch Hạ Viện Michael Martin tuyên bố từ chức, sau khi báo chí phanh phui chuyện nhiều Dân Biểu khai và nhận bồi hoàn từ công quỹ những món tiền chi cho việc riêng, như sửa nhà, thực phẩm gia súc, phân bón cây… Thủ tướng Brown không chỉ trích báo chí mà tuyên bố các dân biểu làm bậy không xứng đáng để tái tranh cử. 

Nhìn những gì xẩy ra tại Nam Hàn và Anh Quốc, rồi nhìn về Việt Nam, hình như không ai biết xấu hổ. Đảng và Chính Phủ đều lớn tiếng hô hào chống tham nhũng, nhưng nhà báo chống tham nhũng thì đi tù. Đôi khi, có đảng viên– chỉ những người giữ chức từ thứ trưởng trở xuống—đi tù, như Trần Mai Hạnh và Mai Văn Dâu, nhưng đều được đối xử đặc biệt, và cho mãn tù sớm…”.

 

8

Đã có từ lâu và đã được pháp chế hóa các tiêu chuẩn để tuyển chọn lái xe.
Chắc không lâu nữa cũng sẽ có những tiêu chuẩn như vậy để lựa chọn
người cầm lái một huyện, một tỉnh, một ngành
”.

 

Lắm người đã từng nuôi hy vọng đó suốt nhiều thập kỷ qua.

Thực tế trả lời bằng hằng loạt những bản tin đầu tư quyền/chức một vốn bốn lời, với cả một hệ thống cò, kể từ chạy bằng/chạy chức/chạy dự án… cho tới chạy án.

Xã dâng huyện. Huyện dâng tỉnh. Tỉnh đệ trung ương. Cứ thế, thành một hệ chằng chịt đan chéo mọi phòng/sở/cục/vụ/bộ… hợp lực bôi trơn lên tới đỉnh điểm hộp số vận hành của guồng máy là bộ chính trị.

Can phạm thuộc diện nội bộ sẽ được xử lý bằng biện pháp hành chính, ngưỡng tối đa là đình chỉ điều tra ở tầm thứ trưởng, và nếu chạy đúng mối, thì thường được thăng ngạch sau đó.

Sau nửa thế kỷ nghiệm thu, nhân dân (đặc biệt là dân oan và dân cựu chiến binh) đã cùng nhận ra rằng niềm hy vọng có được những người cầm lái đúng chuẩn đó là loại hy vọng suy dinh dưỡng.

 

9

Thật cao quý khi chính trị được hiểu là
cuộc đấu tranh rộng lớn của các lực lượng xã hội đông đảo,
song thật tầm thường khi bị hiểu là
những đối phó vặt giữa cá nhân với cá nhân
”.

 

Xưa, Gia Long lên ngôi xong lệnh cho thuộc hạ đào mộ Quang Trung Hoàng Đế để làm nhục người đã khuất, rồi cho voi dày nữ tướng Bùi Thị Xuân để trả thù cho hả dạ mấy lần bị đuổi chạy qua cầu viện Xiêm La.

Nay, trong bối cảnh pháp trị XHCN, thì dân phòng đánh dân oan, hay công an giết công dân rồi vu là tự tử… là chuyện đối phó vặt hàng ngày ở xã ở phường.

Còn trên tận thượng tầng kiến trúc quyền lực ở đây, viên tể tướng bị kiện đã trả thù người đứng đơn kiện bằng một vụ phá án có tên khó gọi nhất lịch sử ngành tư pháp, và bằng một bản án bỏ túi sẵn, không chứng cứ, không biện hộ.

Bị cáo là TS Cù Huy Hà Vũ, nhưng chính tay tể tướng thù vặt và hệ tòa án câm điếc kia mới là kẻ đứng trong vành móng ngựa của nhân dân và dư luận quốc tế.

Cứ tưởng áp án bắt tù thế cho tỏ rõ quyền lực kẻ đứng đầu chính phủ. Chẳng hay đó lại là phương thức hữu hiệu nhất để quảng bá cho công chúng tỏ tường về nỗi lo sinh tử về ngày tàn kề cận của đám vua tập thể.

 

10

Tội ác hại người hiền cần được xếp vào loại tội
chống sự phát triển của dân tộc, của loài người
”.

 

Trước TS Cù Huy Hà Vũ là cả dàn nguyên khí quốc gia Phùng Cung, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Cao Xuân Huy, Chu Ngọc, Đào Duy Anh, Đặng Đình Hưng, Đỗ Đức Dục, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Lê Đạt, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Thụy An, Trương Tửu, Tử Phác, Trần Duy, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, Nguyễn Minh Cần, Trần Minh Việt, Dương Bạch Mai, Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Lê Trọng Nghĩa, Lê Minh Nghĩa, Hoàng Thế Dũng, Nguyễn Kiên Giang, Vũ Huy Cương, Vũ Thư Hiên, Đinh Chân, Lưu Đông, Trần Thư, Trần Châu, Nguyễn Gia Lộc, Phùng Văn Mỹ, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Chí Thiện, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Hộ, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ, Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khuê, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Đỗ Nam Hải, Bùi Kim Thành, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, a3saigon Phan Thanh Hải, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Khải Thanh Thủy, Phạm Thanh Nghiên, Đoàn Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Vi Đức Hồi, Nguyễn Bắc Truyễn, Phạm Minh Hoàng, Dương Kim Khải, Trần Thị Thúy, Cao Văn Tỉnh, Phạm Văn Thông… cùng nhiều người khác, đếm không xuể/kể không hết.

Sau TS Cù Huy Hà Vũ còn các LS Trần Đình Triển, Huỳnh Văn Đông, chín thanh niên sinh viên thuộc giáo phận Vinh bị bắt cóc mất tích, và những người yêu nước biểu tình chống hiểm họa ngoại xâm vừa bị bắt trong ngày ô nhục của nhà nước 21/8/2011.

Tất cả đã là nạn nhân trực tiếp của một thể chế chính trị phi nhân chống lại sự phát triển của dân tộc, không khác gì Pol Pot đối với Cao Miên, hay Kim Nhật Thành đối với Bắc Triều Tiên.

 

11

“Giữa người đẹp và ngai vàng, chọn cái thứ nhất thích hơn.
Giữa người đẹp và Tổ Quốc, chọn cái thứ hai đúng hơn”.

 

Tất cả cũng là nạn nhân của một dàn “lãnh đạo đỉnh chóp” đã vướng phải thứ sinh tử lệnh có độ phân giải cao từ những người đẹp Tô Châu/Hàng Châu/Quế Châu… cùng những trương mục Thượng Hải/Nam Ninh… mà cam lòng phủi tay với Tổ Quốc và nặng tay với dân tộc.

Các đại hội toàn đảng, kể cả đại hội trù bị, báo cáo chính trị và dự thảo nghị quyết… cũng do bởi mớ sinh tử lệnh đó mà nằm dưới sự quan trắc/đề bạt/chuẩn y của Bắc Triều.

Hệ quả tất yếu phải là: Chủ trương sao chép – Mô thức rập khuôn – Chính sách phóng đại…

Cũng bởi đó, đưốc thế vận phải được đón rước an toàn/trọng thị ở Sài Gòn, suýt tạt ngang Hoàng Sa & Trường Sa.

Và địa chỉ 46 Hoàng Diệu Hà Nội và 39 NTMK Sài Gòn đã mặc nhiên trở thành một thứ Little Beijing, Tiểu Bắc Kinh, nên phải được nhà nước CHXHCNVN ra sức bảo vệ bằng mọi giá.

Liệu là có quá đáng lắm chăng, khi có kẻ bi hài cho rằng vận mệnh nước nhà đang nhấp nhô trôi tuột trên những đường cong?

12

Vị tất phải kết luận đúng sai, khi các tiền đề đã đủ và rõ”.

 

Trên mặt phẳng của thế giới ngày nay, mỗi câu hỏi có thể kích ra hàng vạn đến triệu kết quả hồi đáp. Dữ kiện tràn ngập như xả đập …chống lũ.

Những dự báo “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” của 10 năm trước đã từ lâu trở thành lời tiên tri hiển thị ngày càng rõ nét qua 3 kỳ đại hội toàn đảng 9-10-11, và qua thực tiễn kinh tế/quốc phòng/chiến lược biển đảo… của ta.

Tác giả đã đi tù và mãn án. Những người kẻ chữ HS-TS-VN đã lọt vào tầm ngắm của an ninh. Blogger Điếu Cày phản đối vụ Tam Sa đã bị án chồng lên án, nhà nước bắn tin là đương sự bị mất tay, nhưng chưa một ai, kể cả vợ con, được gặp. Người thiếu nữ đi thăm các ngư phủ Hòa Lộc bị nạn ngoài biển Đông cũng đã đi tù. Những người yêu nước quyết đòi bảo vệ biển đảo đã bị vác ngang, vật ngửa, bẻ tay, đạp mặt, vất lên xe, và  bắt về đồn.

Có ai ở đây cần một kết luận đúng sai?

 

13

Hãy thật giỏi một nghề, chớ nên giỏi nhiều trò”.

 

Và có ai ở đây muốn nhắn nhủ lãnh đạo đôi lời tâm huyết?

Đúng thế. Hãy tự mình trau dồi cho thật giỏi một nghề, bất luận rằng đó thuộc ngành quản lý, dịch vụ, hay cầm bút. Làm xếp cho ra xếp. Làm người cho ra người.

Hãy bỏ thói phán quan, thậm chí, giám quan.

Đất nước và dân tộc không phải đồ chơi. Đừng giở trò.

Chính phủ cũng chẳng phải là bãi rác. Lại càng chớ nên lắm trò lố lăng kịch cỡm.

 

14

Có thể làm cho thiên hạ được cười vui,
song không thể biến mình thành trò cười của thiên hạ
”.

 

Chính phủ là cơ quan trách nhiệm điều hành sinh hoạt kinh tế và nắm giữ sinh mệnh chính trị cả nước. Hạ sách là lo cái lo chung của nhân dân. Thượng sách là vui cái vui chung của thiên hạ.

Như vậy, trách nhiệm về hiệu năng là nguyên tắc hành xử đứng đầu. Mọi thứ khác, dù lo hay vui, có thể tính sau.

Dân có thể ủng hộ điều này và phản đối điều khác. Dân có thể vui hay buồn, ưa hay ghét, muốn giữ hay muốn thay và tự họ quyết định điều đó qua lá phiếu. Nhưng nhất thiết không thể để cho mọi người thấy chính phủ chỉ làm trò cười cho thiên hạ.

Một đảng cầm quyền hay một chính phủ thù vặt và chỉ làm trò cười cho thiên hạ là tự thân nó vô chính phủ, đã hóa rồ, chẳng đáng ngồi đó cho người đời phỉ nhổ, lại càng chớ nên tính kế ngồi lâu.

 

15

 Khi bàn về cái chết, cần thấy rõ cái chết ở những kẻ đang sống”.

 

Để cho mọi sự đến nước chức năng điều hành quốc gia bị coi là một chuỗi đối phó vặt giữa cá nhân với cá nhân, thì cho dù cán cân thiệt hại lúc đầu có nghiêng về phía nhân dân tay không đi nữa, thì đó cũng chỉ là thành quả nhất thời.

Bởi đằng sau các thứ “thắng lợi” nhỏ đó là một điều thiệt hại rất to: Kẻ đứng đầu cái đảng hay chính phủ hóa rồ đó đã bị coi như những tử thi chưa chôn.

Túm lại, đường truyền từ những trò lố đối phó vặt tới mức hóa rồ sẽ dẫn cả cái chế độ này ra nghĩa trang bằng tốc độ xử lý của con chip tân kỳ nhất.

Nhất định thế.

 

22/8/2011. Kỷ niệm tròn 15 năm ông Hà Sĩ Phu bị kết án 1 năm tù với tội danh ʺđánh cắp bí mật nhà nước” (là bức thư của cố TT Võ Văn Kiệt gửi BCT đã được tán phát rộng ra tới cả nước ngoài bấy giờ).

Blogger Đinh Tấn Lực

 

Chú thích: Tất cả những dòng in nghiêng/đậm trong khung là những đoạn di cảo “Suy Ngẫm Sự Đời” của nhà nghiên cứu và mô phạm về mỹ học Hoài Lam, tức GS Nguyễn Văn Tước (1931-1991).

 

 


Nguyễn Hưng Quốc

Nói đến xã hội và văn hóa Việt Nam, một trong những điều chúng ta hay tự hào nhất là quan hệ giữa người và người vốn được cho là lúc nào cũng ăm ắp tình nghĩa. Điều đó nhất định là đúng. Nhưng chỉ đúng trong bình diện cá nhân với cá nhân. Ở một bình diện khác, bình diện quan hệ được thiết chế hóa với tư cách tổ chức, nghĩa là được nhìn từ góc độ chính trị học và xã hội học, xã hội Việt Nam lại cũng không thiếu khuyết tật, trong đó, quan trọng nhất là: nó thiếu hẳn kích thước dân sự.

Nói như vậy cũng có nghĩa là, chúng ta cần phân biệt hai bình diện của quan hệ: phi-thiết chế (noninstitutionalized) và thiết chế hóa (institutionalized).

Phi-thiết chế là những quan hệ hoàn toàn có tính chất cá nhân và ngẫu nhiên, ví dụ, trong quan hệ bạn bè: chúng ta chơi thân với một số người, thường xuyên gặp gỡ họ để chuyện trò hoặc nhậu nhẹt, hoặc trong quan hệ láng giềng: thỉnh thoảng chúng ta ghé nhà nhau, tán dóc hay giúp đỡ nhau chuyện này chuyện nọ. Những quan hệ phi-thiết chế ấy ở đâu cũng có, tuy mỗi nơi có những sắc thái khác nhau. Chẳng hạn, ở Việt Nam, hàng xóm có thể chạy qua chạy lại nhà nhau bất kể giờ giấc; ở Tây phương, ngược lại, thường, thứ nhất, cần có hẹn trước; thứ hai, không ngồi quá lâu; và thứ ba, không nên trố mắt hay chõ miệng vào đời sống riêng tư của nhau.

Quan hệ được thiết chế hóa là những quan hệ được biến thành tổ chức. Có hai loại tổ chức chính: tư (private) và công (public).

Tư, có hai hình thức chính: gia đình và chỗ làm. Gia đình rõ ràng là một quan hệ được thiết chế hóa, ở đó, mọi người nối kết với nhau theo hai nguyên tắc chính: huyết thống và tình nghĩa. Đây là quan hệ căn bản không những cho sự sinh tồn mà còn cho cả việc giáo dục, đặc biệt, việc xã hội hóa của từng cá nhân. Những bài học đầu tiên, từ những bài học về ngôn ngữ đến những bài học về nghệ thuật ứng xử của nhân loại bao giờ cũng được thụ đắc từ gia đình. Chỗ làm, hoặc là công sở hoặc là xí nghiệp hay hiệu buôn, v.v… là một hình thức khác của quan hệ tư, ở đó, nguyên tắc chính để nối kết mọi người là lợi nhuận: mỗi người một công việc khác nhau với những khả năng và bổn phận khác nhau, nhưng tất cả đều giống nhau ở một điểm: vì lợi nhuận.

Thiết chế quan hệ công thì chỉ có một: chính trị. Đó là quan hệ giữa cá nhân và chính phủ. Cá nhân, bất cứ là cá nhân nào, dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, tốt hay xấu, tất cả đều gắn chặt trong mối quan hệ với nhà nước. Luật pháp áp dụng cho mọi người. Thuế má cũng áp dụng cho mọi người. Nguyên tắc nối kết mọi người trong lãnh vực này chủ yếu là quyền lực.

Ngoài các thiết chế quan hệ vừa kể, còn gì nữa không? Một số người có thể nói: ở Việt Nam còn có một tổ chức quan hệ khác: đó là làng. Làng, ở Việt Nam, ít nhất từ góc nhìn của các nhà Văn hóa học, là một đơn vị nằm giữa gia đình và đất nước. Quan hệ giữa người với người trong làng cũng được thiết chế hóa với những sinh hoạt và những tôn ti nhất định. Đành là đúng. Nhưng ở đây có hai vấn đề: Thứ nhất, cái thiết chế trong làng chủ yếu mô phỏng theo thiết chế của nhà nước, cũng là một hệ thống đẳng cấp nghiêm ngặt. Nhiều người hay nói đến tính chất dân chủ trong văn hóa làng ngày xưa. Nhưng chắc chắn đó không phải là thứ dân chủ của những kẻ cùng đinh. Thứ hai, quan trọng hơn, cấu trúc và văn hóa làng ấy chỉ còn là một hoài niệm. Làng, hiểu theo nghĩa truyền thống, đã biến mất ở Việt Nam hiện nay.

Thành ra, ở Việt Nam bây giờ, quanh đi quẩn lại, mọi quan hệ giữa người và người chỉ giới hạn trong ba thiết chế chính: gia đình, nơi làm việc và nhà nước; với ba kích thước chính: tình nghĩa, lợi nhuận và quyền lực.

Nhưng như vậy đã đủ chưa?

Chắc chắn là chưa đủ.

Các nhà nghiên cứu xã hội học về di dân, nhất là các cộng đồng di dân mới, trong đó có cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đều đi đến nhận định này: đời sống của đa số, nói chung, khá nghèo nàn. Trong khi phần lớn người bản xứ, ngoài gia đình và công việc, thường tham gia tích cực vào các sinh hoạt tập thể như hội đoàn, từ hội đoàn xã hội đến các hội đoàn tôn giáo, hoặc ít nhất, các câu lạc bộ, kể cả câu lạc bộ của các “fans” một môn thể thao nào đó, các cộng đồng di dân thường chỉ biết gia đình. Đi làm xong thì về với gia đình. Hết. Nếu tham gia vào sinh hoạt tập thể thì cũng chỉ giới hạn trong các đoàn thể chính trị, nghĩa là ít nhiều quan hệ với nhà nước.

Hiện tượng đó nổi rõ ở cộng đồng người Việt ở hải ngoại nhưng không phải không có ở Việt Nam, nếu không muốn nói, nó chỉ là hiện tượng kéo dài của một tập quán đã có ở Việt Nam: Chúng ta chưa có các sinh hoạt mang tính xã hội.

Nói chưa, thật ra, không đúng. Trước đây thì có. Ở miền Nam trước đây, những sinh hoạt tập thể dựa trên nguyên tắc phi-lợi nhuận và phi-quyền lực như vậy đã khá phổ biến, ví dụ, thanh thiếu niên, ngoài phong trào Hướng Đạo, còn có thể tham gia vào các sinh hoạt do các tôn giáo tổ chức. Hầu như tôn giáo nào cũng có những hội đoàn như thế: Phật giáo thì có đoàn thanh niên Phật tử; Công giáo thì có đoàn Hùng tâm – Dũng chí, v.v…

Sau năm 1975, tất cả các sinh hoạt ấy đều bị nghiêm cấm.

Tất cả các sinh hoạt tập thể ngoài hai nguyên tắc lợi nhuận và quyền lực cũng đều bị nghiêm cấm. Con người trở thành bơ vơ.

Cái kích thước trong quan hệ bị nghiêm cấm ấy chính là kích thước dân sự, một trong những kích thước căn bản và quan trọng trong đời sống con người.

Thiếu nó, xã hội sẽ trở thành khuyết tật.

Hậu Chí Phèo

Posted: 03/07/2011 by koll in Uncategorized

Hậu Chí Phèo

 

 

Sau khi đánh chết Bá Kiến trong một cuộc ẩu đả tưng bừng trước nhà Chị Dậu, Chí Phèo nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của làng Vũ Đại, được đông đảo dân chúng ủng hộ hết mình. Kết thúc trận kịch chiến ấy, Phèo từ một tay bợm nhậu bỗng chốc biến thành người hùng. Trong mắt dân chúng, kể cả một số kẻ thù xưa của Phèo, hắn là một trang hảo hán, là người soi đường chỉ lối.

Trên cương vị mới, Phèo bắt đầu tận hưởng hương vị chiến thắng và thi hành chính sách chăn dân do người anh lớn cai quản làng bên là Lão Hạc tư vấn. Đối với đám bạn nhậu đầu trộm đuôi cướp thuở xưa, ai biết điều thì Phèo cất nhắc lên các vị trí như phụ trách phòng sưu thuế, chỉ huy đội trị an hoặc ít ra cũng cầm loa, gõ mõ. Ai bướng thì Phèo cho vào hợp tác xã, suốt ngày bán mông cho trời, bán mặt cho đất. Đám dân chúng ủng hộ Phèo cũng không khá hơn. Tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã. Họ làm lụng quần quật suốt ngày, không còn thời gian để suy nghĩ, thành ra não bộ và lá gan họ teo tóp đến thảm hại.

Đối với tàn quân của Bá Kiến thì khỏi phải nói, Phèo triệt tận gốc. Sợ quá, lũ này di tản sang các làng lân cận. Kẻ không chạy được thì đành ở lại làng Vũ Đại, ngậm đắng nuốt cay như chú hổ bị gã thợ săn Thế Lữ nhốt trong cũi sắt chờ ngày lên bếp lò để hóa thân thành cao hổ cốt.

Chính sách của Phèo thế mà hay. Dân làng Vũ Đại nghe răm rắp. Vì sợ. Khi không đám cận thần của Phèo chỉ đánh rắm một phát cũng có khối người nôn mật xanh mật vàng, chết không kịp ngáp. Làng Vũ Đại tuyệt đối an bình là vì thế.

Nhưng cùng với thời gian, Phèo đối mặt với nhiều mối lo mới. Nhờ tiếp xúc với các làng xã văn minh hơn, đám dân đen Vũ Đại ngày càng khôn ra. Một bộ phận trong số họ vẫn tin Phèo vô điều kiện như con cái tin cha mẹ, nhưng không ít người bắt đầu nghi ngờ Phèo, họ mày mò tìm hiểu bản chất lưu manh trong con người hắn ta. Đám cháu chắt Bá Kiến trong và ngoài làng cũng dần dà tìm cách ngóc đầu dậy. Thậm chí đôi lúc chúng đi lại nghênh ngang, đánh rắm một cách công khai mà chẳng hề nể sợ ai hết. Phèo tức lắm, hắn tìm đủ mọi cách để lập lại trật tự. Hắn vận dụng mọi ngón nghề của một bợm nhậu: đập bàn, dằn ly, xô ghế, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phèo còn vận thêm mấy chiêu mà người anh lớn là Lão Hạc tư vấn như siết cổ, bịt mồm, bóp mũi. Nhưng chẳng ăn thua.

Giữa lúc tình hình làng Vũ Đại đang nước sôi lửa bỏng, Phèo đang nghiến răng trợn mắt thì Lão Hạc lại xuất hiện cùng mấy con vàng của lão. Lâu nay, cứ mỗi lúc Phèo gặp khó khăn là Hạc ta lại dẫn chó tới để tư vấn cho Phèo cách giải quyết, tất nhiên là có lệ phí hẳn hòi. Lúc thì lão mượn vài cô gái đẹp về đấm lưng, lúc khác lại xin dăm cặp gà tơ về nhắm rượu. Nhưng lần này khác, Hạc ta sấn tới và chẳng nói chẳng rằng lùa nguyên cả bầy trâu của làng Vũ Đại về. Phèo ức, nhưng nhìn lũ vàng nhe nanh trợn mắt của Lão Hạc, hắn ta hồn vía lên mây.

Phèo sợ, nhưng đám dân đen thì không. Họ kéo nhau ra cổng làng Vũ Đại, bắc loa mồm chửi Lão Hạc om sòm. Cả đám con cháu Bá Kiến trong và ngoài làng cũng nổi máu địa phương, đồng tâm hợp lực chửi rủa, rên xiết. Dàn đồng ca Vũ Đại càng hát càng khí thế. Phen này Lão Hạc già nua kia chỉ có đường thủng màng nhĩ mà thôi. Muốn yên thì hãy trả trâu.

Quả thực chưa bao giờ làng Vũ Đại chứng kiến một sự đoàn kết keo sơn đến thế. Khi máu địa phương, lòng tự tôn làng xã nổi dậy, lũ dân đen thật thà, đám bợm nhậu bị thất sủng, một vài kẻ có lương tâm trong số cận thần của Phèo cùng tàn quân Bá Kiến đã dẹp bỏ bất đồng để hướng mũi tấn công về kẻ thù chung có tên là Lão Hạc. Đây cũng là cơ hội vàng cho Phèo ta chấn hưng dân khí, củng cố sức mạnh địa phương, xây dựng tinh thần đoàn kết để đưa làng Vũ Đại tiến lên một tầm cao mới.

Thế nhưng, một mặt do quá khiếp nhược, sợ đám dân đen làm mếch lòng anh Hạc thì nguy to, mặt khác do sợ các thế lực Bá Kiến thuở xưa trỗi dậy và lo rằng dân chúng học được cách đứng lên tranh đấu thì sẽ gây nhiều nguy cơ cho chế độ cai trị gia trưởng của mình, nên Phèo ta quyết dẹp trò chửi rủa. Một mặt hắn bảo với dân làng: “Các con hãy về đi, chuyện anh Hạc đã có cha Chí đây lo. Các con cứ ăn no ngủ kỹ. Mai mốt trâu sẽ tự động về nhà. Đừng tụ tập chửi bới kẻo bị đám con cháu Bá Kiến lợi dụng, làm mất hòa khí giữa Vũ Đại ta và anh Hạc. Thằng Kiến thì các con biết rồi đấy. Nó ác, dâm, đểu. Nó là thằng khốn nạn. Các con phải nhớ điều ấy”.

Cùng với lời khuyên giải như cha răn con, Phèo còn cho tay chân ra cổng làng giải tán dân chúng. Sau đó đi điểm mặt các nhân vật chủ chốt để tẩm quất. Hắn còn ra lệnh cho đám lâu la làm nghề đánh kẻng, gõ mõ, vác loa không được chửi Lão Hạc, không hùa theo dân đen, không cho bọn tàn quân Bá Kiến cơ hội lợi dụng, hãy ca ngợi tình đoàn kết giữa Chí Phèo và Lão Hạc.

Biện pháp của Phèo lần này cũng phát huy tác dụng. Vào những ngày tiếp sau đó, chẳng còn mống dân đen nào tụ tập trước cổng làng. Trò chửi bới Lão Hạc tuyệt nhiên không. Một vài kẻ dám ho khan, đánh rắm thì bị tay chân của Phèo đánh đập tơi tả.

Nhưng có một điều Phèo không nhận ra. Đó là giờ đây đã có thêm nhiều người ghét hắn. Đám cháu chắt Bá Kiến đã đành, đám bợm nhậu bị thất sủng chẳng nói làm chi. Ngay trong số dân đen từng tin Phèo vô điều kiện giờ cũng có thêm nhiều người nghi ngờ hắn, thậm chí oán hắn. Phèo đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để tập hợp dân chúng xây dựng làng Vũ Đại giàu mạnh khiến Lão Hạc không còn dám làm càn.

Giờ đây Phèo đang rất cô độc. Hắn không còn tâm trí nghĩ đến chuyện đòi lại đàn trâu nữa.

* * *Sau khi dẹp được đám dân làng chửi rủa Lão Hạc, Phèo ta rất khoái chí. Chưa bao giờ hắn thấy rõ được uy quyền của mình như thế này. Giữa lúc hắn đang giương giương tự đắc thì ái thiếp Thị Nở tâu lên:

“Bẩm quan lớn, quan lớn biết tại sao đám dân đen có thể làm loạn không?”

“Ơ, con này hỏi kỳ… Thế tại sao nào?”

“Bẩm, tại chúng biết nói.”

“Ơ, người thì phải biết nói chứ.”

“Dạ bẩm, tại chúng biết nói nên chúng mới liên hệ với nhau được. Tại chúng biết nói nên chúng mới chửi anh Hạc được. Tại…”

“Thôi…”, Phèo đập bàn quát lớn. Đây chính là điều Phèo hiểu rõ nhất. Ngày xưa nếu bị câm thì hắn đã không thể tru tréo trước cổng nhà Bá Kiến mỗi ngày được rồi. Phèo hiểu rõ rằng chính trò chửi bới liên hồi đó đã khiến lão Kiến hết chịu nổi mới dẫn đến trận thư hùng trước nhà Chị Dậu năm nào. Kết cục là Chí Phèo đả bại Bá Kiến để điều hành làng Vũ Đại. Nếu Phèo không biết nói, không thể chửi rủa thì hắn đã không có ngày hôm nay. Quả thực tiếng nói là một thứ vũ khí nguy hiểm.

“Hay!”, Phèo thét lên khiến Thị Nở giật nảy mình. “Giỏi, ngươi đúng là ái thiếp của ta. Ngươi đúng là con đàn bà tóc dài mà đầu cũng dài hiếm hoi trên thế gian này. Ngươi chẳng những biết nấu cháo hành mà còn biết trò chơi quyền lực”.

Thị Nở bẽn lẽn: “Hổng dám đâu.” Đoạn ả nói tiếp: “Thế quan lớn sẽ làm gì nào?”

“Ngươi không phải dạy khôn ta. Ta tự có cách.”

Ngay ngày hôm sau, Chí Phèo ra bố cáo bắt dân làng Vũ Đại không được nói, phải câm hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ bị cắt lưỡi. Chỉ có Phèo và đám cận thần mới có đặc quyền nói.

Kể từ giờ phút đó làng Vũ Đại im ắng như bãi tha ma. Từ đầu đến cuối làng, người ta gặp nhau chỉ gật gật vài cái coi như “chào xã giao”. Lũ trẻ con có lỡ khóc ré lên thì bố mẹ chúng vội vàng dùng tay bịt miệng, lấy giẻ nhét vào hoặc, áp dụng công nghệ hóa màu, dùng băng keo dán miệng. Cũng có vài trường hợp bức bối quá chịu không nổi, ho khan vài tiếng, thế là bị đám thuộc hạ của Phèo cắt lưỡi ngay lập tức.

Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì cậu Nam Cao ở cuối làng nghĩ ra một chiêu mới để lách luật: đánh rắm. Số là Chí Phèo chỉ ra lệnh cấm nói chuyện nên việc đánh rắm không bị coi là phạm pháp. Thế là dân Vũ Đại chuyển qua đánh rắm thay cho nói. Người ta quy ước đánh một phát có nghĩa là “hello”, đánh hai phát là “good bye”, ba phát là than vãn, bốn phát là chửi thề. Vân vân và vân vân.

Phong trào đánh rắm phát triển đến mức nhiều người luyện được các chiêu thức thượng thừa. Người ta chẳng những có thể đánh các câu đơn giản như “chào bác”, “chào cô” mà còn có thể đánh “tôi ghét lão Phèo”, “lão Phèo thật độc ác”. Có người đánh một lúc được vài trăm phát là chuyện thường, y như bắn súng liên thanh vậy. Lũ trẻ con mới mở mắt cũng học đánh rắm. Tình hình đánh rắm tại làng Vũ Đại phải nói là “trăm hoa đua nở”, đủ thứ âm thanh, mùi vị, thậm chí màu sắc nữa.

Chuyện này làm cho Phèo và đám thuộc hạ đau đầu nhức óc. Cấm đánh rắm chăng? Phèo phân vân không biết xử trí thế nào. Giữa lúc đó Thị Nở xuất hiện. Thị Nở lâu nay luôn hiện ra đúng lúc và mang theo nhiều phương án cứu rỗi đời Phèo, thuở cơ hàn thì bát cháo hành hoặc cái bánh bèo nhão nhoẹt của thị, còn lúc Phèo có quyền lực thì Nở tư vấn các giải pháp quản lý xã hội vĩ mô.

“Phải cấm dân làng đánh rắm thôi”, Phèo phán.

“Ấy chết, cấm nói thì được, cấm đánh rắm thì không. Không nói người ta vẫn có thể sống, còn không đánh rắm thì chỉ có nước vỡ bụng mà chết”, Nở phân tích. Thị còn nói với Phèo rằng nếu cấm dân đánh rắm thì làng Vũ Đại sẽ bị các làng bên, trừ làng Lão Hạc, phê phán là gia trưởng, độc tài. Lỡ có ai đó vỡ bụng chết vì ứ hơi thì Phèo sẽ bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Thế nên tuyệt đối không được cấm đánh rắm.

“Thế phải làm thế nào?”, Phèo hỏi.

“Phải siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm”, Nở thì thào vào tai Phèo. Sau đó Nở còn nói nhiều thứ nữa, nhưng chỉ cho một mình Phèo nghe thôi.

Ngay ngày hôm sau, Phèo ra bố cáo cho toàn dân làng Vũ Đại: Phàm là người thì ai cũng phải đánh rắm. Đó là quyền lợi thiêng liêng nhất. Làng không cấm. Nhưng do có nhiều kẻ lợi dụng việc đánh rắm để phá hoại trị an nên từ nay làng sẽ siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm. Tất cả mọi người chỉ được đánh rắm ở mức độ vừa phải và rắm phải thơm. Ai đánh rắm to, thối sẽ bị phạt nặng. Ai vi phạm nhiều lần sẽ bị trát lỗ ~~~, khỏi đánh rắm luôn.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, Phèo thành lập một nhóm đặc nhiệm với thành viên là các bợm nhậu biết điều từng vào sinh ra tử với hắn ở tất cả quán xá trong làng. Ngày ngày đám này đi khắp làng dỏng tai lên nghe xem có ai đánh rắm lớn, lâu lâu lại khịt khịt mũi xem kẻ nào đánh rắm thối để đem ra trừng trị.

Kể từ đó hoạt động đánh rắm ở làng Vũ Đại đi vào khuôn phép thấy rõ. Các cao thủ đánh rắm trong làng không còn đất dụng võ. Bí quyết đánh rắm từng chuỗi dài như bắn súng máy ngày càng mai một, đi dần đến chỗ thất truyền.

Khai bút ngày Xuân nói chuyện tình cảm…

Biểu Tình – Từ Góc Nhìn

Luật Lệ và Văn Hóa

 

. Đinh Tấn Lực

(cảm nghĩ từ bài viết của nhà báo Xuân Bình cho Bé Phim)

Có Phải Đó Là Hào Khí?

Hẳn là chưa ai quên những cuộc xuống đường rầm rộ được nhà nước tổ chức chu đáo cho các trường vào những thập kỷ trước, đặc biệt là trong những dịp “Chào mừng Đại hội (nào đó) thành công”? Từ sáng sớm, lũ học trò đói mét mặt đã được cẩn thận chăm sóc những khăn quàng đỏ cùng những lá cờ sao vàng nho nhỏ cầm tay, xếp hàng hai đi từ trường ra địa điểm tập họp theo đội hình diễu binh, với đội trống danh dự của trường dẫn đầu cùng ban giám hiệu, các giáo viên đi kèm từng lớp, lớp trưởng và lớp phó được phát sẵn mẩu giấy viết tay các khẩu hiệu và cách hô vuốt để cùng hét cho đồng nhịp: “Hồ chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” – “sống mãi, sống mãi, sống mãi!”. Rồi “Đảng cộng sản Việt Nam muôn năm” – “muôn năm, muôn năm, muôn năm!”. Chẳng cần biết ý nghĩa của sự trọng thể hay trọng thị thế nào, lũ học trò bé con thời đó thích lắm, bởi vì, để đảm bảo sự đồng nhịp, học trò không cần học văn học toán mà được nghỉ lớp để dành hết thì giờ cho sự nghiệp học tính tuân phục và tập dượt nhiều ngày trước ngày chính thức xuống đường.

Với sự trợ lực hữu hiệu và tận tình của công an chìm nổi các loại, gần như mọi thứ đều ăn khớp theo mô thức tổ chức rập khuôn cả nước (và có thể rập cả khuôn Liên Xô-TQ?). Nhưng đã lắm người tự hỏi: Có phải đó là hào khí của một cuộc biểu thị tình cảm? Không ai chắc! Điều nắm chắc trong tay chỉ là: “Thép” đã tôi thế đó! Và người ta rùng mình theo ước mơ của đảng: sống mãi với muôn năm, vạn tuế, vạn vạn tuế!

Gần hơn nữa, có lẽ càng ít ai quên các cuộc biểu tình trước cổng những đại sứ quán để chống các chính phủ Tây phương, đặc biệt là lần chống Mỹ đưa quân đội vào nước bạn Iraq để loại bỏ nhà cầm quyền độc tài bầu bạn Saddam Hussein? Từ cả tuần trước đó, hệ thống loa phường đã cạnh tranh tối đa với báo chí, đồng loạt mở hết công suất để tuyên truyền liên tục cho mục tiêu, chỉ tiêu, và cách thức biểu tình. Đến đúng ngày, đích thân dân quân và các tổ dân phố đã dồn sức huy động mọi giai cấp nhân dân vào cuộc, tiêu chí là phải có đủ mặt đại diện các thành phần công nhân, nông dân, thanh niên xung phong, sinh viên học sinh, phụ nữ, bô lão, thiếu nhi, cựu chiến binh… và tất nhiên là không thể loại trừ bộ đội, cán bộ công chức (thời đó rất hiếm tư chức), xích lô, xe ôm (thời đó cũng hiếm taxi), cả đầu gấu, hình sự, du côn… Tất cả đều được sắp hàng hai đi bên lề phải, tay cầm cờ xí, miệng hô khẩu hiệu theo những mẫu viết sẵn và phát trước. Lộ trình diễu hành đã được công an vạch sẵn, lại còn được cảnh sát giao thông hụ còi môtô mở lối. Đó đây lại có những băngrôn cách khoảng đều đặn, xen kẻ tiếng ta lẫn một vài thứ tiếng khó đọc (và khó nghe): “Pítsờ Pho Irắc”, “Giăngki Gô Hôm”, “GioócBút dơkinlờ”, “Rút quân ngay, đồ khốn”… Đến khi những đoàn người từ nhiều ngã đường đã tập họp đúng giờ tại địa điểm míttinh thì lập tức nơi đó biến thành một hiện trường đấu tố khiếm diện bọn đế quốc, phản động, thù địch nước ngoài. Nếu địa điểm là cổng một đại sứ quán cần chống nào đó thì sẽ có cán bộ đứng phát cà chua thối cho nhân dân (không có trứng, hoặc cà chua tươi, vì lý do kinh tế bấy giờ), xong xuôi, một tiếng còi hiệu vang lên để đồng bào bày tỏ sự căm tức cực điểm bằng cách đồng loạt ném cà chua vào cổng sứ quán. Máy ảnh của các phóng viên chỉ đợi ngần đó để nháy, cộng thêm cảnh tượng nhân dân cùng hát bài Như có bác Hồ… Thế là nguyên dàn báo, đài và loa phường hôm sau đã có đầy đủ tin tức hình ảnh, âm thanh cuộc biểu tình cao điểm của lòng căm hận bọn đế quốc đã thành công tốt đẹp vượt chỉ tiêu v..v…

Dù vậy, vẫn lắm người hỏi nhau: Có phải đó là hào khí? Có phải đó là biểu tình?

Và lắm người, kể cả người nước ngoài, lắc đầu thay cho lời đáp.


Vậy Thì Biểu Tình Là Gì?

Theo Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý – nxb VH-TT): Biểu tình đgt. Tụ họp với nhau lại hoặc diễu hành trên đường phố để biểu thị ý chí, nguyện vọng hoặc biểu dương lực lượng, thường nhằm mục đích gây sức ép gì đó.

Theo Từ điển Tiếng Việt (Trung Tâm Từ Điển Học – nxb Đà Nẵng): Biểu tình đg. Đấu tranh bằng cách tụ họp đông đảo để bày tỏ ý chí, nguyện vọng và biểu dương lực lượng chung.

Theo Encyclopedia Americana: biểu tình là hành động ôn hòa của một nhóm người, nhằm mục đích bày tỏ đến cộng đồng một quan điểm hay cách nhìn của họ về một vấn đề nào đó trong xã hội.

Theo Wikipedia: Biểu tình là một hình thức hành động bất bạo động thường diễn ra trong lịch sử được thực hiện bởi một nhóm người. Thuật ngữ này chỉ đến sự trưng bày một cách công khai những ý kiến chung của nhóm người này… Các biểu tình có thể có mục đích bày tỏ quan điểm hoặc ủng hộ hoặc phản đối một vấn đề công cộng, nhất là về một vụ bất công xã hội… Các biểu tình thường có liên quan đến vấn đề chính trị, kinh tế, và xã hội, thường nhằm mục đích gây sức ép cho một thay đổi nhất định.

Theo Kinh tế gia Nguyễn Trần Bạt: Biểu tình chính là quyền thể hiện những bức bách, mâu thuẫn và tình cảm của sinh hoạt xã hội.

Theo một độc giả ở Arizona: Biểu tình là công cụ duy nhất của người dân thể hiện tiếng nói và nguyện vọng của mình với chính quyền.

Theo Đại biểu QH Dương Trung Quốc: Biểu tình là cái hàn thử biểu giúp ta đo được độ nóng của cuộc sống.

Theo Luật gia Phan Thanh Hải: Biểu tình là sự thống nhất biểu đạt một ý chí tình cảm nào đó của (một số) đông người.

Theo một độc giả BBC: Người dân biểu tình là cách cuối cùng để nói lên nguyện vọng của mình khi cuộc sống bị bóc lột và không còn lối thoát.

Còn theo giáo án môn chính trị ở cấp trung học phổ thông VN: “Quyền biểu tình là quyền được tự do biểu lộ tình cảm đối với Đảng và Nhà nước”. Cũng chính là nguyên nhân của những cái lắc đầu kèm theo tiếng thở dài nêu trên.

Quyền Biểu Tình Được Thể Hiện Thế Nào?

Về mặt hình thức: Tiến sĩ Gene Sharp sơ kết cả thảy 198 phương thức phản đối và thuyết phục ôn hòa bất bạo động, có thể liệt kê một vài hình thái tập họp số đông thường thấy, bao gồm: gửi kháng thư, giương biểu ngữ, thắp nến cầu nguyện, đêm không ngủ, diễn kịch, diễu hành, tuần hành bằng xe, tọa kháng, để tang chính trị, đình công, đình công ủng hộ công nhân bạn đình công, đình công luân phiên, tổng đình công, tuyệt thực, tống táng giả… Và cả những phương cách phản đối không cần tụ tập ở một nơi: bãi khóa, bãi thị, lãn công, làm nghẽn mạch điện thoại cơ quan, không tụ tập theo lệnh của nhà nước, tẩy chay báo chí trong luồng, tẩy chay các dịch vụ quốc doanh, tẩy chay bầu cử, tổ chức “tuần im lặng”, tổ chức “tuần cáo bệnh”, tổ chức “tuần áo trắng”, đồng loạt rút tiền ra khỏi các ngân hàng, thống nhất động tác chào nhau, chuyền tay cập nhật sổ đen các công an ác ôn, đồng loạt rời bỏ khu vực công, tuân hành miễn cưỡng trước khi từ chối mọi chỉ thị, từ chối các loại lệ phí bất chính, trì hoãn hay cản trở hệ thống chỉ huy và thông tin của nhà nước, bất cộng tác… Tức là, biểu tình không nhất thiết phải đi đôi với tụ họp một nơi, mà là sự đồng loạt bày tỏ ý nguyện thống nhất của số đông, dù là ở khắp nơi.

Về mặt đích nhắm: Tại Philippines, nhân dịp kỷ niệm 20 năm cuộc lật đổ cựu Tổng thống độc tài Marcos, người dân Phi đã xuống đường biểu tình đòi bà Gloria Arroyo phải từ chức vì những khuyết điểm điều hành guồng máy nhà nước. Ngược lại, tại Đài Loan, người dân đã nhiều lần xuống đường nhiều lần bày tỏ sự ủng hộ cho Tổng thống Trần Thuỷ Biển, người chủ trương không thống nhất với Trung Hoa lục địa. Tức là Nhân dân không chỉ biểu tình phản đối. Họ tự biểu tình ủng hộ nữa.

Còn về mặt ý nghĩa, hãy thử liệt kê một vài trường hợp tiêu biểu:

Tu Chính Án số Một trong bản Hiến pháp Mỹ bảo vệ quyền biểu tình ôn hòa của người dân thông qua quyền tự do ngôn luận và quyền tự do hội họp. Tu Chính Án số Một cũng nghiêm cấm Quốc Hội Mỹ soạn thảo bất cứ điều luật nào có tiềm năng xâm phạm đến các quyền tự do vừa kể.

Tại Thái Lan, bản Hiến pháp thứ 16, được thông qua năm 1997, có các quy định cơ bản về các quyền về tự do hội họp, tự do ngôn luận, tất cả có liên hệ đến quyền tự do biểu tình. Bất cứ hạn chế nào đối với các quyền đó cũng không được trái với quyền cơ bản mà người dân Thái Lan được hưởng là tự do tụ họp, tổ chức biểu tình, tham gia biểu tình. Luật chỉ cấm họ không được mang theo vũ khí.

Tại Việt Nam ta, khẩu hiệu giăng đầy cả nước là: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Đọc lại các bản Hiến Pháp xứ nhà, ta có những gì?

Hiến Pháp VN 1946: không có từ biểu tình.

Hiến Pháp VN 1956: Điều 25Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.

Hiến Pháp VN 1980: Điều 67Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Hiến Pháp VN 1992: Điều 69Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam ta vẫn chưa có luật biểu tình. Đại biểu QH Dương Trung Quốc đã từng nêu một câu hỏi không lời đáp: “Vì sao trong Hiến pháp đã nêu rõ quyền biểu tình của người dân mà chúng ta chưa có luật biểu tình cho dân được thể hiện cái quyền đó theo khuôn khổ của pháp luật?”.

Mà đã gọi là “Quyền” thì không phải đi xin, bởi lẽ: Theo nguyên tắc pháp quyền, Nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép, đối lại, người dân được làm tất cả những gì luật pháp không ngăn cấm.

Như vậy, mọi hình thức đấu tranh ôn hòa và không gây hại trực tiếp đến các cá nhân khác đều được coi là hợp pháp, và sinh hoạt biểu tình không nhất thiết phải chờ đến khi có luật biểu tình mới được hoạt động.

Cho đến nay cụm từ “theo qui định của luật pháp” vẫn được chính quyền giải thích một cách gian trá, theo sự cho phép hay cấm đoán tùy tiện của chính quyền.

Đó chính là biểu hiện rõ nhất của một thể chế công an trị.

Phản Ứng Của Chính Quyền Đối Với Biểu Tình?

Người ta còn nhớ, vào trước thời điểm 30/04/1975, mọi cuộc tổ chức và kêu gọi biểu tình (ở Sài Gòn) đều được (Hà Nội) ca ngợi là các hoạt động tiến bộ và thường được khuyến khích ngầm để trở thành những phong trào rộng lớn.

Còn sau 1975? Có lẽ ấn tượng còn đọng lại là cuộc biểu tình tự phát của khoảng 2000 SVHS ở Sài Gòn ngày 4-7-1989 để phản đối tờ SGGP đưa tin vu khống rằng SVHS đập phá nhà hàng Kỳ Hòa II (của ai đó). Theo gương của Bắc Kinh đối phó với vụ Thiên An Môn một tháng trước đó, công an thành phố đã hỗ trợ cho đại gia Kỳ Hòa II xua chó cắn sinh viên.

Đối sách của nhà nước có phần đổi khác ít nhiều ở các vụ biểu tình của người dân Thái Bình (1999), vụ biểu tình Tây Nguyên (2004), và gần đây là các vụ biểu tình tại Sài Gòn của người dân oan các tỉnh miền Nam, hay của thanh niên sinh viên phản đối lời tuyên bố ngạo mạn của Bắc Kinh nhằm thành lập huyện Tam Sa bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa. Đó là đối sách cô lập – phân tán – giải tán – bắt nguội – khép án vu vơ.

Trường hợp nhà Dân báo Điếu Cày bị kết án… thiếu thuế. Ngay cả những người làm đơn xin phép biểu tình như các công dân Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Cao Quận, để “Yêu cầu Chính phủ có biện pháp kiềm chế lạm phát”, cũng đã bị nhà nước giam giữ bằng nhiều tội danh vớ vẩn. Nhiều người khác bị ghép vào tội danh hình sự ghi ở Điều 5 Nghị định 38/CP: “Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật…” và “ các hành vi khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cuộc sống bình thường của nhân dân…”.

Trên thực tế, nghị định này quy định về một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng; nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành, Ủy ban Nhân dân các cấp và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm trật tự công cộng. Tức là, phạm vi điều chỉnh của nghị định này không phải về việc biểu tình.

Cũng trên thực tế, thanh niên sinh viên mặc áo đỏ hát quốc ca, ôn hòa hô khẩu hiệu phản đối hành vi xâm lăng của Trung Quốc, hay, tập họp để yêu cầu chính phủ có biện pháp kiềm chế lạm phát, thì đã phạm tội gì? Hoặc giả, nông dân mặc áo trắng đi bộ 30 cây số về thủ đô đội đơn kêu oan, hay, giáo dân chỉ cầu nguyện và hát thánh ca, thì đã phạm tội gì? Ngược lại, phải hỏi cho ra lẽ rằng nhà nước ra tay vũ lực ngăn chận họ thì phạm tội gì? Còn nếu nhà nước vẫn muốn kết tội tự động bày tỏ lòng yêu nước, thương dân, mến đạo của họ thì phải đưa ra tòa xét xử minh bạch.

Không nhất thiết phải hỏi rằng: Khi chúng ta chưa có Luật biểu tình thì việc biểu tình có vi phạm pháp luật hay không? Nhà nước VN đã tỏ rõ cho cả người VN ở trong và ngoài nước lẫn dư luận quốc tế thấy rằng Hà Nội đã trắng trợn vi phạm hiến pháp và luật pháp của chính họ. Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã phân tích rất rõ điều này trong bài viết “Nhà Nước Việt Nam Liên Tục Vi Phạm Hiến Pháp”.

Về phía Bộ Công An, bản tin trên báo CATP ngày 15-12-2007 đã hăm dọa: “Trong những ngày gần đây, Công an TP Hồ Chí Minh phát hiện âm mưu, ý đồ  và kế hoạch của các thế lực thù địch, phản động, trong đó có tổ chức phản động khủng bố ‘Việt Tân’, trang web ‘Tập hợp Thanh niên Dân chủ’, diễn đàn X-caphe và một số trang blog trên Yahoo 360o… lợi dụng mạng internet để kích động thanh niên, sinh viên, học sinh xuống đường tuần hành, biểu tình phản đối Trung Quốc. Việc lợi dụng kích động tuần hành, biểu tình gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thành phố là vi phạm pháp luật Việt Nam”.

Qua đó, nhà cầm quyền Hà Nội đã dồn sức trên mặt truyền thông để đe nẹt nhân dân bằng những bài báo gán ghép hành động biểu tình với tội danh khủng bố, trong lúc chính họ đã vừa cất công giới thiệu các tổ chức kêu đòi dân chủ đó, vừa phải nhổ-liếm các quyết định bắt khẩn-thả khống những người mà họ cực lực tuyên truyền rầm rộ là khủng bố bằng hàng chục bài báo. Một điều đáng ngẫm cho dàn lãnh đạo nước ta, ngày nào mà họ còn chưa hết niềm tự hào VN được làm thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, là Luật chống khủng bố của Thái Lan vừa được thông qua, tương tự như rất nhiều nước khác, đã cấm chính quyền không được coi các cuộc biểu tình là hoạt động khủng bố.

Không một ai có thể chấp nhận người phát ngôn một chính quyền đang là thành viên HĐBALHQ lại nhận định về các cuộc biểu tình của sinh viên thanh niên phản đối vụ Tam Sa rằng “đó là việc làm tự phát, chưa được phép của các cơ quan chức năng VN”.

Trên thực tế, chính các kiểu vu khống trên mặt báo vừa dẫn đã là những hành động vi hiến và phạm luật. Ngay cả nhận định đó của Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Lê Dũng cũng đầy tính hàm hồ cố hữu của một nhà nước công an trị.

Lại càng khó lòng chấp nhận văn bản của một số trường đại học cao đẳng ở Hà Nội cấm sinh viên tụ tập biểu tình đông người trước đại sứ quán Trung Quốc. Đó là
các công văn hoàn toàn không có giá trị pháp lý, ngược lại, chỉ là loại văn kiện vi hiến, vi luật, lột tả lề thói công an trị thấm nhuần vào tận đầu óc ban giám hiệu (đầy học hàm học vị) các cơ sở giáo dục cấp cao của ta.

Ngay cả tòa án cũng như cơ quan nhà nước cũng không thể tự mình cho phép quyền sáng chế ra luật cấm, tội phạm và hình phạt. Lại càng không thể đưa cả sự độc quyền toàn trị đó vào hiến pháp.

Phản ứng của người dân về những đối sách vi hiến và vi luật đó, ngược hẳn sự chờ đợi của giới cầm quyền, lại là một thái độ vô cùng tích cực: Không sợ đi tù – Sẵn sàng đi tù cho những người bị bắt vì cầu nguyện – Đòi đi tù thay cho những người bị áp án vô lối, ngay trước cổng tòa án… Đó chính là hình thái đấu tranh cao điểm của nhân dân. Trong lịch sử loài người, đó cũng là biểu hiện sinh động nhất về mức độ “uy tín” cuối đời của những nhà độc tài.

Còn ở mặt tư duy, không ít người đã định nghĩa cực kỳ chính xác: “Phản động là hành động phản lại hay đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc”.

Trong tình thế hiện nay, rõ ràng là đảng và nhà nước CSVN mới đích thị đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc, thông qua hành vi dâng đất-biển-đảo cho ngoại bang trong lúc đàn áp các cuộc biểu tình phản đối của nhân dân trong nước.

Công Cụ Của Phát Triển & Tiến Bộ

Bản chất cốt lõi của các cuộc biểu tình chính là những tiếng chuông cảnh báo cho nhà nước biết rõ lòng dân, hầu quan tâm và hành xử trách nhiệm giải quyết một vấn đề nào đó khiến nhân dân bức xúc, không chỉ trong lãnh vực chính trị, mà ngay cả kinh tế, xã hội…

Ở cấp độ thấp hơn, các cuộc biểu tình giúp cho giới chủ nhân xí nghiệp biết rõ ý nguyện của công nhân, giới điều hành đô thị biết cư dân muốn gì… nói chung là những người “hữu trách” hiểu được nguyện vọng của tập thể để điều chỉnh dự kiến, cải thiện kế hoạch và đổi mới công việc của họ sao cho hợp lý, vẹn tình.

Như vậy, ở một chừng mực nhất định, biểu tình không tự nó là giải pháp, nhưng đích thị là phương cách góp phần vào tiến trình hoàn thiện, cải tiến, canh tân mọi góc cạnh sinh hoạt của xã hội đúng theo khát vọng của nhân dân, và làm thăng tiến mọi cá nhân lẫn tập thể trong xã hội đó.

Vậy, hà cớ gì lại tồn tại những mức độ chấp nhận biểu tình khác nhau giữa các chính phủ, thậm chí trong cùng một khu vực, trong cùng một Hiệp Hội các quốc gia láng giềng? Tại sao bên cạnh những chính quyền điều hành quốc gia bằng các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền theo luật quốc tế và nhân dân họ được thoải mái biểu tình, lại còn đó một vài nhà cầm quyền cố dùng những luật lệ trí trá, lấy cớ là vì an ninh xã hội hoặc ổn định chính trị v.v… để đàn áp tiếng nói và bắt bớ nhân dân?

Tất cả tùy thuộc vào tính chất của thể chế chính trị, kể cả những thứ trá hình mị dân mà từ thời thượng gọi là bản sắc.

Nước Mỹ chỉ mới vượt ngưỡng 200 tuổi mà đã khẳng định vị trí hàng đầu nhân loại là nhờ giới lãnh đạo của họ liên tục chủ trương và thực sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền của công dân Mỹ, cùng lúc, người dân Mỹ cũng biết rõ và tận dụng tối đa quyền phê phán, quyền biểu tình và quyền lựa chọn lãnh đạo của họ.

Ngược lại, ở các chính quyền độc tài núp bóng “bản sắc dân tộc”, họ chủ trương cướp chính quyền (bằng vũ lực) nên chú tâm vào việc giữ rịt quyền (bằng bạo lực) và chăm chút lợi riêng hơn hẳn bất cứ một điều nào khác, kể cả sự tụt hậu của cả dân tộc, hay đất nước bị mất đất mất đảo về tay ngoại bang. Họ coi thường nhân dân (lập luận dân trí thấp). Họ đứng trên pháp luật và cùng lúc nhân danh pháp luật (lập luận giữ yên trật tự xã hội). Họ tham nhũng, phát động và phát huy tập quán hối lộ (lập luận bôi trơn cho được việc) và thẳng tay đàn áp những ai tố cáo tham nhũng. Họ bóp nghẹt mọi tiếng nói của quần chúng nhân dân (lập luận ổn định chính trị). Họ tạo ra cơ chế xin-cho, đồng thời, xiển dương ý niệm cha-con / bác-cháu để trị dân theo kiểu ban ơn cho gì được nấy như lũ trẻ nít chập chững trong nhà (lập luận noi theo tư tưởng nọ kia, cộng thêm phong trào treo chữ Nhẫn). Họ chống biểu tình tới nơi tới chốn… Lãnh đạo Việt Nam ta thuộc chủng loại này, cho nên, mặc dù cứ huênh hoang tự hào đã gần 5000 tuổi, Việt Nam vẫn bị xếp hạng phải mất hơn 150 năm nữa mới bằng được Singapore non choẹt mới vài chục tuổi, nếu nó đứng yên.

Người ta rút ra được điều gì từ những góc nhìn này?

Một là: Càng cảm thấy bất an, người ta càng củng cố hóa nền công an trị. Đại biểu QH Dương Trung Quốc uốn lưỡi cách khác: “Ở các nước càng văn minh, càng phát triển thì quyền biểu tình càng được nhà nước bảo hộ”.

Hai là: Khi công dân không tôn trọng pháp luật, họ bị chế tài. Còn khi nhà nước không tôn trọng pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng công dân nước đó mất tin tưởng và khởi sự Bất Tuân Phục nhà nước.

Ba là: Kỹ thuật “Tìm cho dân một kẻ thù” không còn là thứ vũ khí củng cố chế độ của các nhà độc tài. Đặc biệt là ở Việt Nam, khi đảng và nhà nước khiếp nhược trước kẻ thù ngoại xâm, đồng thời, dung dưỡng kẻ thù nội xâm là chính cơ chế quan liêu hành dân cùng hệ thống tham nhũng huyết mạch của đảng.

Bốn là: Tình trạng ổn định chính trị của một quốc gia không phải là được phản ánh bằng sự thiếu vắng các cuộc biểu tình, ngược lại, sự đè nén ngăn chận biểu tình mới đích thị là mầm mống của bất ổn định bùng nổ.

Năm là: Chính chế độ dân chủ về chính trị và sự công bằng hài hòa của xã hội mới mang lại ổn định đích thực và bền vững cho đất nước.

Thước Đo Trình Độ Dân Chủ Của Quốc Gia

Tập quán “Nói Lấy Được” của đảng và nhà nước Việt Nam không còn chút hiệu quả nào trong thế giới truyền tin chớp nhoáng ngày nay. Bức ảnh bịt miệng công dân trước tòa đã truyền khắp năm châu trong vòng vài phút. Nội dung thẩm vấn bức cung những người bị giam giữ vô cớ không còn nằm yên trong bốn bức tường nhà lao VN. Bản án dành cho nhà báo chống tham nhũng Nguyễn Việt Chiến đã trở thành nguyên liệu cho hàng trăm bản tin quốc tế về tình hình tham nhũng tại VN trong vòng 24 tiếng. Gần nhất là vụ tàn phá Phố Ông Đồ mấy ngày đón Xuân Kỷ Sửu này chỉ trong phút chốc đã bay ra khắp thế giới với đầy đủ hình ảnh, video, tên tuổi của các quan chức công an chỉ tay xỉa xói giành địa bàn.

Dưới mắt nhìn thế giới, cách đối phó với những cuộc biểu tình ôn hòa chính là một trong các thước đo về trình độ dân chủ của một chế độ. Bất kể trình độ tuyên truyền của chế độ đó rộng hẹp thế nào. Bất kể những ngụy luận của chế độ đó nhiều ít ra sao:

Ngụy luận 1 “Nước mình dân trí còn thấp …” chính là biểu hiện rõ nét nhất về trình độ “quan trí” cực thấp và “quan đức” cực tồi của giai cấp thống trị đã tự cho phép mình coi dân như rác.

Ngụy luận 2 “Các cuộc biểu tình đó làm phức tạp thêm tình hình” phản ánh nhược tính cực khiếp của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đối với quan thầy TQ, một khi họ trước sau vẫn giữ cung cách ngoại giao chư hầu khấu tấu với TQ. Trên thực tế, nhà nước không phải chịu trách nhiệm ngoại giao về các loại sinh hoạt dân sự như là biểu tình, một khi nó không chủ trương kích động chiến tranh giữa hai nước (ví dụ điển hình đến mức cực đoan là những chiếc giày ném vào TT Geoge W. Bush vừa qua, chẳng hạn).

Ngụy luận 3 “Gây mâu thuẫn với đường lối ngoại giao đối thoại hòa bình hiện hành của Nhà nước” tự nó đã mâu thuẫn, khi các cuộc biểu tình đều tuyệt đối tôn trọng tính ôn hòa bất bạo động và chỉ chờ đợi từ chính quyền một giải pháp hòa bình, công bằng và danh dự.

Ngụy luận 4 “Không nghe theo âm mưu kích động của các thế lực thù địch, phản động” chỉ là lề thói suy nghĩ kém cõi của công an nhìn đâu cũng thấy địch, tự vẽ ra hình ảnh địch để được giải ngân hoạt động, hoặc tùy tiện chụp mũ cho bất kỳ ai khác là thù địch. Điều đó không thể và không nên trở thành lề thói tư duy của lãnh đạo đất nước. Đặc biệt là ở cấp lãnh đạo chính phủ, lẽ ra Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không nên bày tỏ tinh thần bất an và tâm lý bất ổn của đảng và nhà nước ta bằng loại “phát biểu chỉ đạo” tại Hội nghị Công an toàn quốc hôm 22-12-2008 là: Phải chủ động “không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố” trong năm 2009.

Ngụy luận 5 “VN có đặc thù riêng” không thuyết phục cho các lệnh ngăn chận biểu tình, bởi nhân dân VN không phải là một loại người riêng rẽ khác biệt với nhân loại. Đặc thù nổi bật của VN được quốc tế ghi nhận và cần phải làm nhạt đi chính là ở chỗ “Mỗi công dân VN là một người tù dự khuyết”.

Ngụy luận 6 “Đảng có công giành độc lập và vẫn đang làm tốt nhiệm vụ của mình” là một ý niệm trí trá. Đảng không một mình giành độc lập cho VN. Nhân dân VN đã làm việc đó. Còn tình trạng tụt hậu hàng trăm năm so với làng giềng chính là bởi khả năng yếu kém bên cạnh tập quán tư túi của đảng và nhà nước VN (ví dụ điển hình và gần nhất là dân ta không ai làm cho Nhật cắt bỏ viện trợ ODA).

Ngụy luận 7, nhân danh nghị định 38 /CP, rằng “Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật…” và “các hành vi khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cuộc sống bình thường của nhân dân…” chính là cách tốt nhất để xóa hiến pháp bằng …nghị định, đặc biệt là dùng nó để từ khước hay ghép sẵn tội cho những người đang xin phép biểu tình. Không một nghị định, sắc lệnh, thông tư, chỉ thị hoặc công văn nào có hiệu lực một khi nó vi phạm hiến pháp nước đó hay vi phạm các công ước quốc tế về nhân quyền.

Ngụy luận 8 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ” chính là một phiên bản khác của ý niệm “làm chủ một cái rỗng không”, hay, hãy tự hào về cái “không có gì”.

Ngụy luận 9 “Làm xấu hình ảnh đất nước, bôi nhọ quê hương trong mắt bạn bè quốc tế”. Hình ảnh đất nước không thể nào xấu hơn được nữa, sau những sự kiện sứ thần quốc gia làm nhục quốc thể xưa giờ, gần nhất là trong các vụ buôn lậu sừng tê ở Nam Phi; tham nhũng thị thực visa ở Tiệp; thứ trưởng chơi cá độ bằng nhiều triệu USD tiền viện trợ; đại biểu QH tuyên bố ở Âu Châu rằng dân ta không cần tự do ngôn luận; tổng giám đốc hãng bia ăn cắp kính mát ở Thái; giám đốc bệnh viện ăn cắp rượu ở Singapore; phi công và tiếp viên VNA chuyển vận ngoại tệ và hàng ăn cắp ở Úc, Đức, Nhật v.v… Biểu tình chống tham nhũng, chống ăn cắp… mới chính là cách làm photoshop cho hình ảnh đất nước đa dạng hơn.

Ngụy luận 10 “chưa được sự cho phép” biểu lộ toàn bộ nếp tư duy ơn huệ, ban phát, đặc lợi, xin-cho… và cách hành xử đối với dân theo kiểu gia trưởng, cha chú, ân nhân, “trên”… đã nhiều năm lưu cữu trong đầu lãnh đạo xứ ta: Cho gì mới được nấy, kể cả miếng ăn, kể cả hiểu biết. Nó chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp của một Việt Nam lụn bại.

Thước đo dân chủ của một quốc gia đôi khi tỷ lệ nghịch với tổng số ngụy luận của chính quyền ở đó. Riêng ở VN, vụ việc cấm đoán biểu tình phản đối những tuyên bố thiếu thiện chí của Bắc Kinh trước đại sứ quán và tổng lãnh sự quán TQ còn là thước đo mức độ khiếp nhược đớn hèn của nhà nước VN.

Rõ ràng đảng và nhà nước ta cố tình ru nhân dân “…ngủ trong giường chiếu hẹp, giấc mơ con đè nát cuộc đời con”.

Biểu Tình Là Một Phần Của Nếp Sống Văn Minh

Tại Thái Lan, nếu một công dân muốn tổ chức biểu tình và có thông báo với cảnh sát nhưng sau đó bị cấm không được biểu tình thì người đó có thể: Một là kiện ra tòa sơ thẩm bình thường. Hai là kiện lên tòa án hành chính. Ba là nếu việc cấm cản không cho tổ chức biểu tình bị coi là vi hiến thì người ta có thể đặt vấn đề với các dân biểu QH, đồng thời, yêu cầu các tổ chức phi chính phủ đưa vấn đề ra trước tòa án Hiến pháp của Vương quốc Thái Lan.

Ở Mỹ, tin tức hàng ngày cho thấy dân Mỹ biểu tình thường xuyên, có khi mục tiêu là đòi hỏi cho cả quyền được đối xử tử tế của loài vật (nông trại bò phải rộng thoáng, chuồng gà phải đủ chỗ cho gà xoay trở, lò mổ không được kéo dài nỗi đau đớn cho con vật khi giết thịt v.v…). Có lẽ cũng chưa có nơi nào trên thế giới có cuộc tụ hội tự ý của gần hai triệu người trong cơn giá lạnh giữa mùa Đông (trong đó có hơn 200 ngàn người ngủ lều giữ chỗ qua đêm), chỉ để chứng kiến tại chỗ lễ nhậm chức của một tân tổng thống như trường hợp ông Barack Obama tuần trước.

Ở Pháp, các cuộc đình công ôn hòa và thường xuyên đã làm thay đổi sinh hoạt và cả bộ mặt quốc gia, lâu dần đã được mặc nhiên xếp loại thành một nếp sống có tên là “văn hóa biểu tình”.

Đó là một nếp sống không chỉ thể hiện trình độ văn minh (đi tìm giải pháp bằng cách nêu vấn đề, tạo sức ép, và tranh luận tìm đáp án tối hảo), nó còn là một sinh hoạt lưỡng lợi: Người dân gióng tiếng cảnh báo về những bức xúc tập thể của họ. Chính quyền hoặc các giới hữu trách liên hệ động não tìm giải pháp tốt nhất trong điều kiện và khả năng cho phép, thường là một cuộc họp tranh luận phương thức dàn xếp sao cho sự việc đạt được kết quả tốt hơn, khiến nhân dân hài lòng và chính phủ được thêm uy tín. Kết quả sau cùng là đất nước phát triển liên tục trong một nền văn hóa hòa đồng (quyền lực cân bằng, được kiểm, không áp đảo, không tranh thắng, chỉ mưu cầu sự hài hòa và tiến bộ của xã hội).

Biểu Tình Vừa là Quyền, Vừa Là Một Sinh Hoạt Bình Thường Của Công Dân

Rõ ràng, biểu tình chỉ có nghĩa là nhiều người bày tỏ công khai một quan tâm chung. Do đó mà có cả biểu tình phản đối và biểu tình ủng hộ một vấn đề (và theo định nghĩa đó thì nhiều người kéo nhau xuống đường mừng chiến thắng bóng đá là đang biểu thị tình cảm vui mừng, biểu lộ niềm tự hào dân tộc, tức là đang biểu tình).

Rõ ràng, biểu tình không đồng nghĩa với bạo động, hay làm mất trật tự xã hội. Ngược lại, nó còn làm tăng thêm sự an bình khi xã hội sinh hoạt hài hòa không bức xúc. Riêng ở Việt Nam ta, trong các cuộc biểu tình gần đây thì hình ảnh bạo động và sử dụng vũ lực hoàn toàn thuộc về phía công an. Chẳng đâu xa, và chẳng cần đến biểu tình, hãy coi lại hình ảnh Phố Ông Đồ mấy ngày trước khắc rõ.

Rõ ràng, biểu tình không làm mất ổn định chính trị. Ngược lại, gióng tiếng về các nỗi bất công để chính phủ có giải pháp mới chính là cách tốt nhất để giữ ổn định chính trị. Nhìn từ một góc khác, ổn định chính trị không có nghĩa là buộc nhân dân câm miệng mặc cho chính quyền tham nhũng, cửa quyền, tư túi, hành dân, tạo ra oan ức đầy trời… để dung dưỡng những mầm mống của nổi loạn nay mai.

Rõ ràng, biểu tình không chỉ là quyền (về mặt luật lệ), mà còn là một sinh hoạt ở đẳng cấp văn minh của một dân tộc (về mặt văn hóa), tương ứng với chuẩn mực sinh hoạt của nhân loại.

Rõ ràng, biểu tình là chuyện bình thường; không biểu tình mới là chuyện bất bình thường.

Rõ ràng, cấm biểu tình càng là chuyện bất thường đối với thế giới ngày nay, bởi đó chính là sự mặc nhiên công nhận rằng chính quyền đích thị là nguồn gốc của bất công nên không dám, không muốn, không để cho người dân nêu ra sự thật đó.

Rõ ràng, chấp nhận lệnh cấm biểu tình cũng chính là chấp nhận tự bịt miệng mình; chấp nhận xóa bỏ khát vọng sống cho ra người của chính mình; chấp nhận mọi áp bức vây bủa và bóp nghẹt sinh hoạt hàng ngày; chấp nhận cúi đầu và đồng lõa với cái ác; chấp nhận cho một nhúm người tự tung tự tác khiến đất nước chìm đắm trong đói nghèo, tụt hậu; chấp nhận cho cả thế giới khinh rẻ giống nòi; và chấp nhận khoanh tay đứng nhìn “vận nước nổi trôi” trong tay lãnh đạo và ngoại bang.

Chúng ta có chấp nhận vậy không? Tuổi trẻ Việt Nam có chấp nhận vậy không?

Như câu đối Tết năm nay của TS Hà Sĩ Phu:

Lúc cháy nhà, ngàn tay chỉ ắt sẽ ra mặt Chuột!

Trời nổi giông, triệu tiếng đàn may mới lọt tai Trâu!

Phải chăng đã đến lúc toàn dân ta cùng gióng cao tiếng nói của mình? Bằng ý chí bất khuất và niềm tự hào dân tộc? Bằng niềm tin đổi mới cho đất nước cất cánh? Bằng khát khao một bước tiến cho đồng bào? Bằng bước chân rộn rã xuống đường? Bằng nghị lực và những bó hoa rợp trời ngợi ca tổ quốc?

Nguyên đán Kỷ Sửu 2009.

Đinh Tấn Lực.

http://dinhtanluc.wordpress.com/khai-but-ngay-xuan-noi-chuy%E1%BB%87n-tinh-c%E1%BA%A3m%E2%80%A6/

“Định hướng dư luận”: những từ ngữ nặng nề

Nguyễn Văn Tuấn – Đó là tôi muốn nói đến những từ như tuyên truyền, giáo dục, và mới đây nhất là định hướng dư luận. Có thể nhiều người đã quá quen với những danh / động từ này nên chẳng ai đặt vấn đề, nhưng tôi vẫn thấy lấn cấn khi nghe đến một trong ba cụm từ trên đây. Lí do lấn cấn là như thế này …

Viết về những cam kết gì đó giữa Việt Nam và Trung Quốc gần đây, một bản tin của Tân Hoa Xã viết (Ba Sàm dịch):
“Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước, ông Hồng Lỗi nói.”
Hôm nay, một ông tướng Tàu lại lên tiếng khuyên Việt Nam nên hướng dẫn dư luận. Bằng một “giọng điệu truyền thống” của kẻ vừa ăn cướp vừa la làng, Mã Hiểu Thiên cũng nói rằng Việt Nam “không nên để cho các diễn biến leo thang và tránh làm phức tạp thêm tình hình, khiến các vấn đề bị trầm trọng hóa, dẫn tới đa phương hóa và quốc tế hóa chúng”. Cần phải đặt câu nói này trong bối cảnh phía Trung Quốc tuần nào cũng lên tiếng đe dọa Việt Nam mới thấy giọng lưỡi của tên này nó lưu manh như thế nào.
Quay lại cái đàm phán trên, hình như hai bên đồng ý sẽ định hướng dư luận. Chẳng biết trong tiếng Anh định hướng dư luận là gì; chắc là directed publicity chăng? Dù là gì đi nữa thì nghe đến khái niệm định hướng dư luận là tôi nhớ đến chuyện xưa, và đó chính là một lấn cấn của tôi.
Câu chuyện xưa đó xảy ra ở Úc, cũng gần 10 năm rồi. Thời đó, VTV4 thương lượng với đài truyền hình SBS của Úc để phát sóng chương trình VTV4 cho người Việt ở Úc. Đài SBS (Special Broadcasting Services) là đài của chính phủ, dành cho các sắc tộc đang định cư ở Úc. Hình như hai bên đồng thuận với nhau, và trong thực tế SBS đã phát sóng một số chương trình. Thế là người Việt bên này phản đối kịch liệt. Biểu tình xảy ra nhiều nơi, có lúc lên đến cả 5 ngàn người. Đài SBS ngạc nhiên không hiểu tại sao biểu tình, trong khi họ nghĩ họ làm một việc có ích cho cộng đồng người Việt! Nhưng một số người chống cộng bên này chỉ ra rằng đó là những chương trình tuyên truyền – propaganda. Tuyên truyền có định hướng. Chính phủ Úc không tin, SBS cũng không tin là có chuyện tuyên truyền. D(ối với họ tuyên truyền là cái gì đó rất xấu xa, ghê gớm, đâu có ai lại đi nói rằng mình tuyên truyền. Thế là có người ta chỉ ra rằng ngay trên website của VTV và trong các bản tin, VTV4 vẫn dùng chữ tuyên truyền. VTV4 vô tư nói rằng họ tuyên truyền đến cộng đồng người Việt ở Úc! Đến lúc này thì chính phủ Úc và ban giám đốc SBS mới tin là có chữ này. Thế là họ đi đến quyết định chấm dứt chương trình VTV4 trên SBS. Câu chuyện dài dòng và phức tạp hơn nhiều, nhưng tôi chỉ nói trên khía cạnh ngôn ngữ mà thôi, để cho thấy rằng cách nói cũng ảnh hưởng đến chính sách.
Ở Úc hay các nước phương Tây, họ xem tuyên truyền hay propaganda là một cái gì xấu xa. Nói đến propaganda họ nghĩ ngay đến Nazi, đến Liên Xô. Còn ở Việt Nam ta hay Trung Quốc thì người ta vô tư dùng chữ tuyên truyền, như chẳng có vấn đề gì phải bàn. Mà, nói đúng lí ra, tuyên truyền chẳng có gì đáng nói là xấu xa, vì nói cho cùng nước nào và chính quyền nào mà không tuyên truyền? Nhưng cái khác là ở cách nói và cách làm. Một bên thì vô tư nói ra tôi tuyên truyền, tôi định hướng dư luận, còn một bên thì làm mà không nói!
Chữ propaganda có lẽ xuất phát từ truyền thống hoạt động của phong trào cộng sản quốc tế. Các tổ chức cộng sản rất coi trọng công tác “Agit’Prop” (tuyên truyền vận động). Và, cũng như nhiều từ ngữ của phong trào cộng sản, chữ propaganda xuất phát từ truyền thống của giáo hội Công giáo. Propaganda khởi thuỷ là tuyên truyền, rao giảng niềm tin vào Chúa. Sau đó, propaganda/tuyên truyền mới trở thành “hoạt động nhằm dư luận tán thành, ủng hộ đường lối, chính sách của một đoàn thể, chính quyền” (định nghĩa của từ điển Robert).
Vì vậy tuyên truyền mang sắc thái tích cực hay tiêu cực còn tùy theo bản chất của các chính sách mà nó phục vụ. Đối với những thanh niên Việt Nam thời thập niên 30-50 được “tuyên truyền giác ngộ” (từ ấy trong tim bừng nắng hạ), tuyên truyền chắc chắn mang ý nghĩa tốt đẹp. Trong thế kỉ 20, sau những tai hoạ do chủ nghĩa Nazi và chủ nghĩa Stalin-Mao gây ra, tuyên truyền chỉ còn nghĩa xấu. Công việc tuyên truyền, quảng cáo thì vẫn còn đó, và càng trở thành quan trọng trong thế giới thông tin, nên người ta tạo ra một từ mới là “truyền thông” (communication) để làm công việc xưa cũ đó. Riêng phía Việt Nam thì vẫn trung thành với ngôn ngữ cũ, nên vẫn giữ nguyên xi hay chữ tuyên truyền, vẫn còn công tác tuyên huấn (tuyên truyền, huấn luyện).
Tuyên truyền dĩ nhiên phải có thông tin. Phổ biến thông tin, nhưng không chỉ có thông tin, và khi thông tin thì bao giờ cũng “có định hướng”, đơn giản là thông tin “một chiều”, theo một chiều hướng có lợi cho tổ chức / chính quyền. Người làm việc tuyên truyền khi xử lí một thông tin, cũng có thể (hay không) làm như người làm thông tin là kiểm tra độ xác thực của nó, nhưng anh ta có một quan tâm hàng đầu, khác hẳn người làm thông tin, là: đưa tin này có lợi cho ta không, làm thế nào có lợi nhất, lúc nào có lợi nhất cho ta, nếu thông tin này có hại, nhưng đằng nào đối tượng quần chúng cũng sẽ biết, ta không đưa không được, thì ta phải đưa thế nào cho ít có hại nhất. Đưa tin hay không, đưa thế nào, tùy thuộc vào quan tâm lợi ích của đoàn thể hay chính quyền. Và do tâm lí chán ngán tuyên truyền của quần chúng, công tác tuyên truyền / truyền thông phải nguỵ trang tối đa thông điệp của mình dưới dạng thông tin. Do đó, tôi nghĩ những gì chúng ta tiếp nhận qua TV hay báo chí, kể cả báo chí Tây phương, cũng là tiếp nhận tuyên truyền.
Ông Chomsky (giáo sư ngôn ngữ học), một thần tượng của tôi, là người bỏ ra nhiều thời gian để nghiên cứu về tuyên truyền của phương Tây. Ông chỉ ra rằng truyền thông đại chúng đều có mục đích định hướng. Mục đích của họ là làm cho đám đông không làm phiền đến họ. “Họ” ở đây là chính quyền, là các đại gia kĩ nghệ, quân sự, v.v. Ông chứng minh thực tế rằng họ muốn làm sao đám đông kia chạy theo những game show vớ vẩn, say mê với thể thao như football, với những bản tin cướp giết hiếp, mở to mắt với những xì căng đan sex, v.v. Còn những chuyện nghiêm trọng, chuyện lớn thì để cho họ lo — We take care of that. Đó là truyền thông định hướng, hay nói theo Việt Nam và Trung Quốc là tuyên truyền có định hướng. Mĩ, Úc, Việt Nam, Trung Quốc hay bất cứ nước nào đều không ít thì nhiều làm như thế. Nhưng như tôi nói trên, người ta dấu không nói ra, còn Việt Nam thì làm theo Trung Quốc, tức là nói huỵch tẹt ra: chúng tôi tuyên truyền!
Nhưng đối với những ai có tinh thần tự do tư tưởng như Chomsky, cái cụm từ định hướng dư luận nghe rất xa lạ. Người trí thức có ý kiến riêng từ thông tin họ có, và không để ai định hướng mình. Đã để cho người khác định hướng tức là mình thiếu độc lập, chẳng khác gì như những con cừu. Mà, nếu thiếu độc lập thì nói gì đến việc có ý kiến riêng? Do đó, người trí thức left wing như Chomsky không bao giờ chấp nhận chuyện tuyên truyền hay định hướng dư luận.
Tuyên truyền định hướng dư luận có nghĩa là xem thường dư luận. Sở dĩ xem thường là vì nó bắt đầu bằng một giả định rất ngạo mạn. Giả định của định hướng dư luận là công chúng chỉ là một đám đông ngu dốt, không có lập trường và chính kiến, không biết suy nghĩ. Từ giả định đó, người ta tự cho mình cái quyền giáo dục công chúng cho bớt ngu dốt, nhào nặn thành những người có lập trường, và dạy cho họ biết suy nghĩ. Dĩ nhiên là suy nghĩ theo họ. Chính vì thế mà chúng ta hay nghe những cụm từ như giáo dục quần chúng. Người ta phải hỏi ai cho anh quyền và anh có tư cách gì để giáo dục tôi? Đó là một suy nghĩ ngạo mạn, tự cho mình ngồi trên đám đông.
Cụm từ giáo dục quần chúng nghe rất nặng nề. Nó chẳng khác gì cha mẹ nói với con cái. Những người làm tuyên truyền đâu phải là cha mẹ của công chúng. Cách nói của Tân Hoa Xã chẳng khác gì nói: “Anh về dạy con cháu anh đừng có làm gì tổn hại đến tình hữu nghị giữa chúng ta”. Dạy cho chúng đừng đi biểu tình nữa. Dạy cho chúng tôn trọng 16 chữ vàng gì đó. Anh dạy dân anh, tôi dạy dân tôi. Đằng sau câu nói đó là giả định rằng người đại diện Việt Nam trong cuộc đàm phán là cha mẹ của người Việt Nam. Cố nhiên, giả định đó sai. Giả định sai thì tất cả theo sau nó cũng đều sai.
Định hướng dư luận cũng có nghĩa cung cấp thông tin một cách chọn lọc. Một sự kiện lúc nào cũng có nhiều khía cạnh. Truyền thông định hướng có nghĩa là người ta chỉ cung cấp khía cạnh nào phục vụ cho quyền lợi của người ta. Cung cấp thông tin như vậy là không đúng với sự thật, và dễ làm cho đám đông hiểu lầm. Câu chuyện về trích dẫn không đầy đủ câu nói của Giám mục Ngô Quang Kiệt là một ví dụ tiêu biểu của việc cung cấp thông tin có chọn lọc.
Định hướng có nghĩa là phản khoa học. Trong khoa học, bất cứ một dữ liệu hay bất cứ phát hiện nào cũng được soi rọi bằng nhiều lăng kính. Nhà khoa học lúc nào cũng đặt câu hỏi tại sao. Tại sao có dữ liệu này? Nguyên nhân xảy ra là gì? Cơ chế xảy ra như thế nào? Có thể diễn giải kết quả này theo cách hiểu khác không? Có bao nhiêu cách diễn giải kết quả? Trong khi đó đối với định hướng dư luận, người ta chỉ có một cách diễn giải, làm như chỉ có một chân lí. Đó cũng chính là cách diễn giải của Trung Quốc về đường lưỡi bò 9 đoạn. Họ không cho (hay không cung cấp thông tin để) người Trung Quốc diễn giải khác. Do đó, tuyên truyền định hướng là rất phản khoa học.
Vì phản khoa học, nên tuyên truyền định hướng rất nguy hiểm. Người Trung Quốc nói chung là dân tộc yêu chuộng hòa bình. Cứ xem văn học của họ thì thấy họ cũng như ta, cũng chẳng muốn chiến tranh. Thật ra, chẳng có dân tộc nào trên thế giới thích chiến tranh. Nhưng để biến một dân tộc yêu chuộng hòa bình thành một dân tộc hiếu chiến như hiện nay, tuyên truyền định hướng của Trung Quốc cố tình vẽ ra một dân tộc Việt Nam hung hãn, đã và đang chiếm lãnh hải của họ. Suốt ngày này sang tháng nọ, họ nhào nặn ra một thế hệ ghét Việt Nam. Họ biến những con người bình thường thành những con dã thú giết người (như chúng ta thấy trong trận chiến 1979); họ biến những con người thành những cỗ máy chỉ biết chém giết. Những gì tờ Hoàn Cầu Thời Báo làm chính là một cách định hướng dư luận chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam, nên họ cho những ông tướng mặt mũi bặm trợn (nhưng đầu óc thì bị chứng cretinism) lải nhải phát biểu những điều mà người có bộ óc bình thường (không bị schizophrenia) cũng biết là vô lí. Họ cũng biết là vô lí, nhưng vì mục đích tuyên truyền định hướng chống Việt Nam nên họ vẫn nói, và đó là một trò chơi cực kì nguy hiểm.
Tóm lại, tuyên truyền – propaganda là một từ hàm ý tiêu cực. Giáo dục quần chúng là những từ ngạo mạn và xúc phạm. Định hướng dư luận là một kiểu tuyên truyền phi khoa học và nguy hiểm. Nếu Việt Nam muốn hội nhập quốc tế, tôi nghĩ các nhà truyền thông – à quên “tuyên truyền” – cần phải xem xét lại những từ đó. Tốt hơn hết là xóa bỏ những từ ngữ đó khỏi kho tàng ngữ vựng ngoại giao.
Nguyễn Văn Tuấn

Ai là con, cha mẹ, chó và chủ nhà?

Hà Hiển – Ai là con, cha mẹ, chó và chủ nhà?
“Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo.”
Ý nghĩa của câu thành ngữ dân gian này là gì thì khỏi phải bàn gì thêm vì tự nó đã nói lên tất cả.

Tôi chỉ muốn nói rằng câu thành ngữ này chỉ đề cập trực tiếp đến những mối quan hệ rất cụ thể: cha, mẹ – con cái, chủ nhà – con vật có thể được coi là trung thành nhất với người là con chó. Vì câu này đề cập đến mối quan hệ giữa những chủ thể rất cụ thể mà ngoài các chủ thể này thì khó có các chủ thể nào khác tương đương để so sánh, nên khi dùng nó để ám chỉ bất kỳ mối quan hệ nào khác thì phải hết sức cẩn thận.
Nếu các bạn không đồng ý với tôi về điều này thì các bạn cứ đưa ra ví dụ về các mối quan hệ tương đương với các chủ thể này đi. Nào, theo các bạn thì cái gì là tương đương với mối quan hệ rất thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái? Tương tự như thế, nếu các bạn cho rằng có một mối quan hệ tương đương giữa “chủ nhà” và “chó” trong vế sau của câu trên thì trong thời đại văn minh này liệu các bạn có dám đưa ra các ví dụ ai là “chó”, ai là “chủ nhà” ngoài “chó” và “chủ nhà” thực sự theo đúng nghĩa đen của nó (vì lấy đâu ra nghĩa bóng mà so sánh).
Thế mà trên báo chí, vẫn có những nhà lý luận của ta, khi phê phán người này người khác vì khác quan điểm với họ, thường dẫn câu thành ngữ dân gian này ra để miệt thị và xúc phạm những người không cùng quan điểm với mình. Tôi còn nhớ có nhà báo rất nổi tiếng cũng dẫn ra câu đó khi phê phán LM Ngô Quang Kiệt sau khi đã tùy tiện cắt xén lời phát biểu của ông cách đây vài năm.
Gần đây nhất, trên trang Anh Ba Sàm, khi bình luận về việc sinh viên Nguyễn Anh Tuấn gửi thư cho VKSNDTC liên quan đến vụ xử LS Cù Huy Hà Vũ, một còm sỹ có nick name là NPB Nguyễn Hòa cũng phán câu đó khi chỉ trích hành động của sinh viên Tuấn.

Sinh viên Nguyễn Anh Tuấn
Chưa bàn đến hành vi của chàng sinh viên này đúng sai ra sao, nhưng trong toàn bộ lá thư của Tuấn, tôi chẳng thấy dòng nào em chê cha mẹ em nghèo khổ cả, cũng không thấy có dòng nào đề cập đến con chó nào hay ông bà chủ nhà nào trong lá thư ấy.
Vì lá thư của Tuấn là kiến nghị của một công dân, và trong đó đề cập đến cả những vấn đề của Tổ quốc, nhân dân có liên quan đến nhà nước, nên tôi buộc phải suy đoán là còm sỹ NPB Nguyễn Hòa muốn ám chỉ đến những mối quan hệ giữa các chủ thể này khi dẫn ra câu thành ngữ trên.
Nếu vậy thì ai là cha mẹ, ai là chủ nhà và “ai” là chó để có thể so sánh tương đương với những chủ thể trên?
Trước hết nói về cha mẹ. Trong số các chủ thể này, “Tổ quốc” được ví với “cha mẹ” nghe ra cũng không nghịch nhĩ lắm. Nhưng cứ giả thiết còm sỹ Hòa ví Tổ quốc như cha mẹ thì trong toàn bộ lá thư của Tuấn, tôi cũng không thấy em viết 1 chữ nào chê bai Tổ quốc cả để có thể lên lớp với em rằng “con không (được) chê cha mẹ khó” . Còn đưa phạm trù quan hệ “Chó – Chủ nhà” vào mối quan hệ giữa Tuấn và Tổ quốc thì lại càng không tương thích và xúc phạm Tuấn.
Hay là còm sỹ Hòa dùng câu thành ngữ này để ám chỉ mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, trong đó có Tuấn? Nếu vậy thì giữa công dân và Nhà nước ai là con, ai là cha mẹ? Về điều này thì Bác Hồ đã nói ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập rằng nhà nước, chính quyền không phải là cha mẹ dân, thậm chí Bác nói rất rõ rằng chính quyền phải là đầy tớ của nhân dân.
Các nhà lãnh đạo của ta cũng thường nói Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nói thế cũng chẳng khác gì bảo là dân đẻ ra Nhà nước. Và nếu thế thì trong mối quan hệ với nhà nước, với chính quyền, dân hoàn toàn có thể được gọi là “cha mẹ”. Thế thì câu “con không chê cha mẹ khó” mà còm sỹ Nguyễn Hòa đưa ra để nhắc nhở phê phán em Tuấn hóa ra là theo hướng ngược lại với ý của Bác Hồ à?
Nếu giả thiết rằng bây giờ còm sỹ Hòa có lý do chính đáng để nhận thức lại rằng điều Bác Hồ nói bây giờ không đúng nữa và chính quyền phải là cha mẹ, dân là con thì mới đúng, nếu cứ cho là thế thì cái câu “con không chê cha mẹ khó” cũng không áp được vào tình huống này, vì nếu so với dân (con) thì Nhà nước (cha, mẹ) mà đại diện cụ thể là các ông các bà lãnh đạo, có ông bà nào nghèo khó đâu mà chỉ có các con dân là nghèo là khó thôi! Nếu dân có chê thì chỉ chê nhiều ông nhiều bà quá giàu mà để cho dân cứ nghèo khổ lam lũ mãi, chứ nếu các ông, các bà mà nghèo thì dân không thương thì thôi, chứ ai dám chê bai gì!
Thôi chẳng dám bàn đến vế sau – “Chó không chê chủ nhà nghèo” nữa vì những “chủ thể” này nó “nhạy cảm” quá! Chỉ muốn nói thế này cho nó nhanh: trong một xã hội văn minh, tôn trọng nhân quyền thì rất không nên người này coi người kia là chó chỉ vì không đồng quan điểm với nhau!
Tóm lại là nói ngược xuôi theo kiểu nào cũng thấy việc các nhà lý luận của ta áp dụng câu này trong bất cứ tình huống nào từ trước đến nay cũng đều không ổn. Xin các vị đừng quen mồm bạ đâu nói đấy, ăn theo, nói leo nữa mà trước khi nói gì thì nên chịu khó NGHĨ cái đã!